Xoài thanh ca quê nhà

Vừa bước vào đầu vườn đã thoảng hương thơm dịu nhẹ, ngan ngát, rất thân quen, không thể lẫn vào đâu được trong mớ hỗn tạp mùi vị của cây trái quanh nhà từng gắn bó với kí ức tuổi thơ tôi, mùi xoài thanh ca! 

Ngày ấy, cứ độ đầu hè, sau những cơn giông xào xạc ùa qua mái lá là nghe những tiếng lộp độp ngoài vườn, đợi khi mưa vừa dứt hạt, lũ trẻ xóm tôi lại túa ra những mảnh vườn (vườn nhà mình và cả vườn nhà hàng xóm nữa) tranh nhau lụm những trái xoài vừa rụng xuống, và không quên mang theo một nắm muối hột. Trái nào ửng vàng thì lột vỏ mút ngay, trái nào sồn sồn thì đập ra chấm vài hạt muối, ăn bùi bùi chua chua ngon phải biết. Còn trái nào sống sống thì túm áo đem về. Tiện thể đi quanh mấy cái hầm kiếm vài con cá rô trồi lên mặt đất sau mưa, bắt mang về cho mẹ làm bữa cơm chiều. Xoài thanh ca còn sống chua té đái, nhưng được cái hương thơm thì dịu vô cùng, xẻ dọc rồi bằm ra chấm với nước cá rô đồng kho nồi đất thì ngon phải biết, lùa cơm trong chén không biết mỏi tay luôn.

Phải nói thêm là, ở trong những mảnh vườn nhà quê không chỉ có xoài thanh ca mà còn có nhiều loại cây trái và các loại xoài khác như: xoài hôi, xoài tượng, xoài cát,.. nhưng lũ trẻ chúng tôi chỉ nhớ nhiều đến xoài thanh ca, chắc có lẽ vì cái độ chua và vì mùi hương dịu nhẹ của nó không lẫn vào đâu được trong cái mùi ngái ngái ẩm ương của đất vườn đầy lá khô sau mỗi trận mưa rào…

Bẵng đi một thời gian dài, xoài thanh ca ít còn nghe nhắc đến, dạo quanh chợ chỉ thấy người ta bán các loại: xoài thái (Thailan), xoài keo (Campuchia), xoài ba màu (Đài Loan).

Trong chuyến công tác về vùng Bảy Núi, An Giang, tình cờ tôi biết được ở đây vẫn còn nhiều hộ dân giữ lại vườn xoài thanh ca. Trong vườn xoài nhà chú Nguyễn Nhậm ở phường Tịnh Biên, có nhiều gốc xoài cổ thụ, đang vào mùa cho trái chín. Hỏi ra mới biết, hằng năm mỗi cây xoài nơi này cho sản lượng gần một tấn trái. Tuy nhiên ngày nay do nhiều người ồ ạt trồng các giống xoài ngoại nên giá xoài ở thị trường đang rất thấp, xoài thanh ca tại vườn thương lái mua mão hết cây chỉ có mười lăm ngàn đồng một kí.

Chính điều này làm tôi chợt bùi ngùi nhận ra những giống cây trồng đặc hữu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đang dần bị mất đi, trên chính quê hương mình. Cảm thấy tiếc nuối mãi, nhưng không biết trách ai đây, để rồi chỉ tự trách mình, sinh ra ở đồng mà không thể trở thành “bác nông dân’, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn mà trở thành “người phố thị”, để mỗi khi đi đâu đó thấy thứ gì quê mùa thân thuộc lại cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ nhớ về tuổi thơ. Mảnh vườn cũ ngày nào bên con kênh nhỏ gia đình tôi đã bán đi từ lâu.

Uớc ao giờ chỉ là gầy lại được một mảnh mảnh vườn nhỏ, trồng mấy gốc xoài thanh ca, mấy cây mận, có mấy công đất ruộng, vừa làm ruộng vừa nuôi cá đồng, để con cháu mình có cơ hội thỏa thích đắm mình trong cái mùi vị trong lành, thanh khiết của đồng quê, sống một cuộc sống thuận hòa với thiên nhiên mà trước đây ông bà chúng đã từng trải qua.

Nguyễn Khái Hưng