PHÙ SA MIỀN SÔNG NƯỚC
Tập thơ Nương theo dòng chảy (NXB Đà Nẵng, 2025) của Trần Sang cho thấy một giọng thơ hướng nội mà không khép kín, lặng mà sâu, dung dị mà hàm chứa suy tưởng. Hệ biểu tượng “dòng chảy, phù sa, đất mẹ, hoa quỳnh, vòng tròn” kết nên một không gian thi pháp mà ở đó, lịch sử, ký ức và bản thể gặp gỡ trong nhịp sông nước phương Nam. Đọc tập thơ dưới phối cảnh thi pháp học đan cài phê bình sinh thái và ký ức văn hóa, có thể thấy ba đường trục nổi bật: dòng chảy phù sa như ký ức – lịch sử – bản thể; cái tôi hiện sinh đối thoại với thời đại dữ liệu, được điều hòa bởi một mỹ học tĩnh lặng giàu chất Thiền; tình yêu bản địa Nam Bộ được bản địa hóa cả ở chất liệu hình tượng lẫn nhịp điệu lời thơ.
Dòng chảy phù sa: ký ức – lịch sử – bản thể
Ngay từ nhan đề, “Nương theo dòng chảy” đã xác lập một lựa chọn mỹ học – triết lý: thuận tự nhiên, thuận thời gian và thuận lịch sử. Dòng nước trong thơ Trần Sang không chỉ là địa lý miền kênh rạch; nó còn là thời gian (ký ức, hồi cố) và bản thể (đời sống – tâm linh). Ở bài mở tập, nhà thơ viết: “Tôi lớn lên chân đạp đất mẹ ngước mắt nhìn trời biên giới…” (tr. 9). Thế đứng “chân đạp đất mẹ” khẳng định ý thức cội rễ (rootedness) nơi miền đất phù sa; còn “ngước nhìn trời biên giới” mở chiều vươn tới, vượt thoát khỏi giới hạn hữu hình. Hai chiều ấy gặp nhau ở một bản thể vừa gắn đất vừa hướng trời, mềm mà bền như nước.
Hình tượng hạt phù sa được nhân hóa thành ký ức sống, đạo lý cộng đồng: “Hạt phù sa không nói/ sông vẫn lặng nghe/ tiếng của đời/ tiếng của mùa màng vẫy gọi” (Tr. 16–17). Phù sa là ẩn dụ cho những đóng góp thầm lặng của bao thế hệ, đó là thứ trầm tích nuôi dưỡng cả thân thể lẫn văn hóa. Đặt trong lăng kính phê bình sinh thái (Buell), phù sa gợi tinh thần bền vững, tái tạo, cộng sinh giữa người và tự nhiên; còn ở bình diện thi pháp, đây là “mã biểu tượng” hạt nhân, nơi các hình ảnh đất – nước – mùa vụ kết chuỗi, định hình trường liên tưởng tưởng tượng.
Không gian Óc Eo hiện vào thơ như một “địa tầng ký ức”: “Có phải trong mỗi viên gạch, mạch nước/ ngân vọng tiếng lòng bao thế hệ trôi qua/ bóng dáng xa mờ, hồn vía còn vương/ nhắc nhớ những ngày xa xăm huyền hoặc” (Tr. 26–27). Nhà thơ không tả thực di tích; anh lắng nghe tiếng vọng của quá khứ trong nhịp thở đất và nước. Theo hướng phê bình ký ức văn hóa (Assmann), đây là kiểu ký ức không lời, lan tỏa qua vật thể, không gian và linh cảm bản thể, khiến chủ thể trữ tình vừa là chứng nhân vừa là người đồng hiện cùng lịch sử .
Một khúc hồi cố lắng sâu trong bài thơ Về đã tạo nên ấn tượng đậm đặc: “…giữa bộn bề cuộc sống mưu sinh/ hạt phù sa vấp chân người viễn xứ…/ hai mươi năm giấc ngủ không yên/ những đêm chập chờn hình ảnh mẹ ta thao thiết/ gọi ta về trong thổn thức ta ơi!” (Tr. 14). Trở về trước hết là hành trình nội tâm để tìm lại căn tính; là “dòng hồi tưởng” nơi ranh giới thực – mộng, hiện tại – quá khứ tan chảy. Những “nền nhà”, “mảnh vườn”, “bờ kinh”, “gốm vỡ”… vì thế không chỉ là chi tiết tả thực mà là điểm neo của ký ức cộng đồng, kết nên không gian ký ức của miền đất.
Tóm lại, trục “dòng chảy – phù sa – đất mẹ” vừa mang chất liệu địa phương vừa vượt lên thành cấu trúc ý nghĩa: một mỹ học của sự lưu chuyển liên tục, nơi lịch sử, ký ức và bản thể cùng chảy trong một hệ sinh thái thi ca hài hòa.
Cái tôi hiện sinh và mỹ học tĩnh lặng trong thời đại dữ liệu
Bên cạnh mạch tri ân quá khứ, thơ Trần Sang đối diện trực diện với hiện tại nhiều xáo trộn. Mê cung dữ liệu, Những vòng tròn, Ai sẽ trả lời đặt cái tôi vào trường quy chiếu đời sống số, nơi thuật toán, nhịp nhanh và vòng lặp công việc dễ làm mờ ranh giới tự do – tha hóa. “Lướt qua mê cung dữ liệu/ Dòng chữ chạy mạng nhện giăng tơ/ Lòng người uốn cong theo thuật toán/ Sự thật trôi xa ngoài cú click” (Tr. 35). “Mạng nhện” phác họa một hệ kỹ thuật số bủa vây cảm xúc – tư duy; “thuật toán” trở thành quyền lực vô hình định dạng nhận thức. Ở đây vang dội những vấn nạn hiện sinh: con người dễ đánh mất chính mình khi bị kéo vào “thế giới của cái chung”.
Trong Những vòng tròn, biểu tượng vòng tròn khuếch đại cảm giác lặp lại, thiếu điểm tựa: “người ta chạy/ từ sáng đến chiều/ từ ngày này qua tháng khác/ quay cuồng trong những vòng tròn vô hình/ vòng tròn công việc/ điểm bắt đầu và kết thúc nhập nhằng…” (Tr. 57). Vòng tròn công việc như chu kỳ khép kín, nơi khởi – chung nhập nhằng, gợi liên tưởng cảm thức phi lý (Camus) và nỗi bơ vơ của chủ thể trong đời sống công nghiệp – dữ liệu.
Ai sẽ trả lời đẩy câu hỏi tới ngưỡng đạo đức – sinh thái: “…bầu trời xanh còn không?/ dòng sông trong còn chảy?/ rừng xanh giờ đâu?” (Câu hỏi cho ngày mai, Tr. 76). Những câu hỏi không nhắm tới đáp án tức thời; chúng đánh thức trách nhiệm hiện sinh của chủ thể trước thiên nhiên bị thương tổn. Khi không còn ai trả lời thay, cá nhân phải tự đối thoại với chính mình, với cộng đồng và với môi sinh, đó còn là sự lựa chọn đạo đức của tồn tại.
Đáng chú ý, mạch hiện sinh căng thẳng ấy lại được điều hòa bằng một mỹ học tĩnh lặng giàu chất Thiền – kiểu “đối kháng mềm” lấy tĩnh hóa động, lấy chậm đối thoại nhanh. Nghe hoa quỳnh tỏa hương: “Hoa quỳnh dạy tôi bài học không lời/ Cái đẹp không mưu cầu rực rỡ/ Không cần phơi mình dưới nắng vàng/ Chỉ một khoảnh khắc lung linh giữa đêm” (Tr. 28). Vẻ đẹp nằm ở đúng bản thể, ở khoảnh khắc hiện diện rồi tan, gần với tinh thần wabi-sabi (giản dị, ngắn ngủi, không toàn bích). Bình yên được định nghĩa bằng thái độ hiện diện: “Bình yên/ Không phải là không có sóng gió/ Mà biết lắng nghe/ Khoảng lặng giữa những thanh âm…” (Tr. 23). Không né thực tại, mà là tỉnh thức trong thực tại.
Từ phương diện thi pháp, nhiều bài được kiến tạo bằng nhịp điệu tiết chế, lặp có chủ ý, khoảng trắng để mời người đọc đọc chậm, sống chậm và cảm chậm. Ở bình diện tư tưởng, chất Thiền và tinh thần vô vi (Lão – Trang) định hình một lối hiện hữu hòa giải: thuận dòng nhưng không buông trôi, mềm mại mà bền bỉ. Nhờ thế, tiếng nói hiện sinh trong thơ Trần Sang không mang giọng điệu bi lụy; nó là tiếng tự vấn và tự kiến tạo ý nghĩa giữa thời đại dữ liệu.
Bản địa Nam Bộ và nhịp điệu thi ca
Căn tính bản địa là tầng sâu xuyên suốt tập thơ. Hình ảnh cha mẹ, nền nhà, mảnh vườn, con kinh hiện lên như mã văn hóa của một vùng đất. “Cha là bầu trời/ là người giữ hồn nhà giữa những điều đã mất” (Cha tôi, Tr. 45). “Mẹ qua năm tháng hao gầy/ còng lưng cày cấy đôi tay chai mòn/ mảnh vườn mẹ trải mùa non/ chắt từ lá cỏ nuôi con ấm lòng” (Mảnh vườn của mẹ, Tr. 82). Cha trở thành vũ trụ bao dung gìn giữ ký ức gia đình; mẹ là biểu tượng tảo tần, kiên nhẫn bám đất quê của người phụ nữ Nam Bộ. Ngôi nhà, mảnh vườn và con kinh vì thế không chỉ là bối cảnh sinh hoạt mà là không gian thiêng kết tinh ký ức dòng tộc.
Tình yêu quê hương trong thơ Trần Sang không hoài cổ hay cường điệu; nó lặng lẽ như nước ngầm, thấm dần qua “tiếng chổi quét sân”, “dáng mẹ gánh nước”, “nền nhà cũ”… Những hình ảnh mang trọng lượng biểu tượng, trở thành mã ký ức của cộng đồng mà theo cách gọi của Trần Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh: đó là nơi bản sắc cộng đồng in dấu vào đời sống thường ngày. Cảm thức bản địa không chỉ thể hiện ở chất liệu hình ảnh mà còn thấm trong giọng điệu, nhịp thơ: chậm rãi, tiết chế, trầm tư, như nhịp sống khoan thai miền sông nước.
Ở phương diện thi pháp, Trần Sang bản địa hóa nhịp thơ: nhiều bài vận hành theo cấu trúc ngắt nhịp bình ổn, lặp theo chu kỳ, đồng thời mở rộng tầng nghĩa bằng ẩn dụ, biểu tượng. Nhờ đó, giọng thơ vừa có âm hưởng truyền thống (chất mộc mạc, gần gũi đời sống), vừa hiện đại (ý niệm, liên văn bản). Cách “làm mới” ở đây không đến từ phô diễn kỹ thuật, mà từ độ chín của cảm thức và độ sâu suy tưởng: làm mới thơ bằng chất liệu đời sống.
Từ điểm nhìn liên ngành, có thể xem Nương theo dòng chảy như một hệ sinh thái thi ca nén chặt giữa ba lớp: lớp tự nhiên – địa lý (dòng sông, phù sa, vườn tược, bờ kinh); lớp văn hóa – ký ức (nền nhà, nghi thức gia đình, dấu tích Óc Eo); lớp hiện sinh – thời đại (mê cung dữ liệu, vòng tròn công việc, câu hỏi không lời đáp). Ba lớp chồng xếp tạo nên hiệu ứng cộng hưởng: từ cộng sinh với thiên nhiên đến đồng cảm với người thân, cộng đồng, rồi đối thoại với thời đại. Khi đọc như thế, ta thấy tập thơ vừa rất Nam Bộ, vừa gợi mở những giá trị phổ quát về thân phận người trong thế giới biến động.
Nương theo dòng chảy không ồn ào tuyên ngôn mà kiên nhẫn thấm vào người đọc bằng những cấu trúc hình tượng bền chặt, những khoảng lặng giàu dư ba. Sinh ra và lớn lên ở miền đầu nguồn sông Hậu, Trần Sang mang “vị phù sa” và “hơi thở phương Nam” vào thơ, nhưng không đóng kín vùng miền: những câu hỏi về ý nghĩa tồn tại, trách nhiệm sinh thái, căn tính – ký ức đều có sức gợi phổ quát. Từ thi pháp học, có thể nhận diện một hệ thống hình tượng, giọng điệu, nhịp điệu tiết chế mà sâu; từ phê bình sinh thái, thấy rõ ý thức bền vững, cộng sinh và bảo tồn ký ức thiên nhiên; từ ký ức văn hóa, nhận ra hành trình hồi quy về nền nhà, mảnh vườn, con kinh như những điểm neo căn tính.
Trong bức tranh thơ Việt đương đại, giọng thơ Trần Sang trầm lặng, khiêm nhường nhưng lại bền bỉ kiến tạo đối thoại giữa cá nhân, cộng đồng, môi sinh, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa bản địa và phổ quát. Đọc Nương theo dòng chảy, ta không chỉ thấy những câu thơ hay, mà còn gặp một tâm thế sống thuận theo dòng mà không buông trôi, mềm mại mà kiên định, lặng lẽ mà sâu xa như chính bản chất của phù sa miền sông nước.
TS. Tiêu Minh Đương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Assmann, A. (2011). Cultural Memory and Western Civilization: Functions, Media, Archives. Cambridge University Press.
- Bachelard, G. (1942). L’eau et les rêves: Essai sur l’imagination de la matière. Librairie José Corti.
- Buell, L. (2005). The Future of Environmental Criticism: Environmental Crisis and Literary Imagination. Blackwell Publishing.
- Camus, A. (1942). L’Étranger [The Stranger]. Gallimard.
- Đỗ Văn Hiểu. (2020). Tính khả dụng của phê bình sinh thái. Tạp chí Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Truy cập từ https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/L%C3%BD-lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc/p/tinh-kha-dung-cua-phe-binh-sinh-thai-1082
- Heidegger, M. (1996). Being and Time (J. Stambaugh, Trans.). State University of New York Press. (Original work published 1927)
- Lão Tử. (2020). Đạo Đức Kinh (Nguyễn Duy Cần dịch). NXB Văn Học.
- Nguyễn Thị Tịnh Thy. (2020). Mỹ học Thiền trong thơ Việt Nam hiện đại. Tạp chí Văn học, (5).
- Sartre, J.-P. (2007). Existentialism Is a Humanism (C. Macomber, Trans.). Yale University Press.
- Trần Thị Ánh Nguyệt, Lê Lưu Oanh. (2016). Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái. NXB Giáo dục Việt Nam.
- Trần Sang. (2025). Nương theo dòng chảy. NXB Đà Nẵng.
