ĐỘC ĐÁO “DÂY ĐÀN RẠCH GIÁ”

Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ XX, ở tỉnh lỵ Rạch Giá, nay là An Giang có một nghệ nhân tài tử dùng nhạc cụ phương Tây diễn tấu bài vọng cổ, được giới mộ điệu yêu thích, gọi đó là “dây đờn Rạch Giá”. Qua gần 100 lưu truyền trong đời sống âm nhạc, dây đờn Rạch Giá có sự đóng góp quan trọng trong lịch sử âm nhạc tài tử, cải lương, đặc biệt là hoàn thiện bài vọng cổ kinh điển trên vùng sông nước Cửu Long.  

Vào một buổi tối năm 1935, ở tỉnh lỵ Rạch Giá có ông thầy đờn tên Ba Lạc cùng vài nghệ nhân tài tử ngồi trên thành cầu Đúc (nay là cầu Kinh Nhánh thuộc phường Rạch Giá) diễn tấu 6 câu vọng cổ bằng một loại nhạc cụ du nhập từ phương Tây tên gọi Măng-đô-lin, 4 dây thép đôi. Từng thang âm, điệu thức, chữ đờn đến phong cách chơi nhạc truyền thống khác hẳn với lối chơi nhạc bằng cây đờn kìm 2 dây, các nghệ nhân đờn, nghệ nhân ca tài tử và giới mộ điệu thích thú, đón nhận phong cách diễn tấu độc đáo này. Do sự sáng tạo này xuất phát từ tỉnh lỵ Rạch Giá nên nó được gọi tên “Dây đờn Rạch Giá”. 

Từ bản “Dạ cổ hoài lang” đến “Dây đờn Rạch Giá”

Một đêm trăng thanh, gió mát của Rằm Trung Thu năm Kỷ Mùi (1919) tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu, nay là tỉnh Cà Mau diễn ra đêm diễn tấu âm nhạc tài tử với sự hội ngộ của đông đảo tài tử đờn, tài tử ca và giới mộ điệu gần xa. Trong đêm diễn tấu này, nhạc sĩ Cao Văn Lầu, thường gọi Sáu Lầu (1890-1976) cho ra mắt bản “Dạ cổ hoài lang” với cây đờn kìm 2 dây, chơi nhịp 2, sau đó tăng lên nhịp 4, rồi nhịp 8…

Theo tác giả bản Dạ cổ hoài lang, đây là nỗi niềm tâm sự ngang trái của đôi vợ chồng son trong xã hội còn mang nặng lễ giáo phong kiến mà tác giả chính là người chồng. Bản Dạ cổ hoài lang được sáng tạo từ thang âm, điệu thức trầm bổng của nhạc cung đình Huế, hòa quyện với làng điệu dân ca Nam bộ vùng sông nước Cửu Long. Sinh thời, ông Sáu Lầu thường kể, vợ chồng ông cưới nhau 3 năm không có con, bị làng xóm kỳ thị, xa lánh. Theo lễ giáo phong kiến, vợ chồng ăn ở với nhau 3 năm không có con thì nhà trai trả con dâu về gia đình nhà gái. Vì thương vợ, ông Sáu Lầu không đành dứt nghĩa tào khang, nhưng cũng không dám cãi lời cha mẹ nên đành “bí mật” gửi vợ mình ở tạm trong một gia đình người thân quen. Dù vậy, đôi vợ chồng vẫn không được sống chung bên nhau như trai gái bây giờ. Nỗi nhớ thương vợ da diết, đêm đêm ông ôm cây đờn kìm cất lời ca, tiếng hát cho vơi đi nỗi buồn, nhất là vào những “đêm đông gối chiếc cô phòng”. Đó, chính là lý do ra đời bản “Dạ cổ hoài lang”, không ngờ nó trở thành bản đờn bất hủ của giới tài tử, cải lương. Một thời gian sau, bản Dạ cổ hoài lang được đổi tên gọi thành “vọng cổ hoài lang”, và ngày nay gọi cái tên ngắn gọn là bài “vọng cổ”.

NNƯT Nguyễn Hoàng Vũ, Chủ nhiệm CLB Đờn ca tài tử Kiên Giang. Ảnh: Đoàn Thế Hạnh

Sự ra đời của Dây Rạch Giá

Ban đầu bài vọng cổ đệm nhạc bằng cây đờn kìm 2 dây, một loại nhạc cụ dân tộc truyền thống Việt Nam. Thời gian sau, vào khoảng năm 1930 đến 1935 tại tỉnh lỵ Rạch Giá, nay là phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, có một ông giáo tên Tiên (thầy giáo Tiên) dùng nhạc cụ Măng-đô-lin, một loại đờn du nhập từ nước Ý, có 4 dây thép đôi để chơi nhạc Việt với bài vọng cổ nhịp 16. Nhiều nghệ nhân tài tử ở tỉnh lỵ Rạch Giá nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành nhóm diễn tấu bài vọng cổ nhịp 16, rồi tăng lên nhịp 32, phổ biến khắp các tỉnh, thành phố Nam bộ. 

“Dây đờn Rạch Giá” chính là một kiểu so dây (dây đờn) trên nhạc cụ Măng-đô-lin: Mi (dây 1), La (dây 2), Rê (dây 3), Sol (dây 4) để diễn tấu bài vọng cổ. Nhưng cây đờn Măng-đô-lin thì phím phẳng, chữ đờn khi diễn tấu chưa được hay lắm, các nghệ nhân dần dần sáng tạo, cải tiến, từng bước hoàn thiện chữ đờn.

Theo gợi ý của các nghệ nhân tài tử ở các tỉnh miền Tây và tại Sài Gòn, trước năm 1945, một tiệm đóng đờn hiệu Melodia ở đường Gia Long, thành phố Sài Gòn thiết kế một loại nhạc cụ khác giống cây đờn Guitar du nhập từ phương Tây, nhưng nhỏ hơn Tây ban cầm ngày nay. Theo sự so sánh của nhạc sư Vĩnh Bảo thì nó chỉ bằng 1/6 cây Guitar thông thường và gọi là Octavina. Cây đờn Octavina chỉ tra 4 dây thép đơn (khác với Măng-đô-lin có 4 dây đôi), nhưng vẫn so dây như Măng-đô-lin: Mi (dây 1), La (dây 2), Rê (dây 3), Sol (dây 4), phím trên cần đờn được bố trí thưa hơn Măng-đô-lin và được móc phím lõm. 

Thiết kế thành công nhạc cụ mới từ việc cải tiến cây đàn Măng-đô-lin để phù hợp với lối chơi bài vọng cổ, các nghệ nhân chơi đờn thoải mái nhấn nhá, tạo ra âm thanh trầm, bổng, da diết, hay hơn tiếng đơn Măng-đô-lin nguyên thủy. Cũng theo nhạc sư Vĩnh Bảo, có người gọi cây đờn cải tiến này là “Guitar-Mando”, nhưng cũng có người gọi đó “Octavina”. Từ đây, bài vọng cổ diễn tấu trên một loại nhạc cụ mới được các nghệ nhân thích thú đón nhận nồng nhiệt, dần dần phát triển thành dây lai, dây tứ nguyệt… 

Đóng góp của Dây Rạch Giá

Từ bản đờn của “Dây Rạch Giá” nhịp 16, rồi nhịp 32, các nghệ nhân ở Sài Gòn, Long An, Sa Đéc, Bạc Liêu, và các tỉnh miền Tây sáng tạo ra nhiều kiểu so dây (đờn) khác nhau trên Guitar-Mando (Octavina) để chơi bài vọng cổ hay hơn, từng bước hoàn thiện bài vọng cổ, như: “Dây Bạc Liêu”, “dây Long An”, “dây Sài Gòn”, “dây Ngân Giang”, “dây Xề”, “dây lai”… hoặc gọi thẳng tên người cải biên ra cách so dây như: “dây Văn Vĩ”, “dây Văn Giỏi”, “dây Hoàng Thành”, “dây Mỹ Châu”…

“Dây đờn Rạch Giá” do những nghệ nhân ở Rạch Giá khơi nguồn và là những người đầu tiên diễn tấu bài vọng cổ nhịp 16 trên Măng-đô-lin, sau đó là Guitar-Mando. Điều đó, khẳng định rằng, nếu không có “Dây đờn Rạch Giá” thì không có những kiểu so dây một cách sáng tạo trong gần 100 năm qua, phổ biến nhất hiện nay là “dây lai”. “Dây lai” dùng để chơi bản vọng cổ nhịp 32 và tất cả bài bản tài tử, cải lương đạt đỉnh cao nghệ thuật như ngày hôm nay. Cái độc đáo của “dây lai” là vẫn chơi được bài vọng cổ nhịp 16 trên đàn guitar phím lõm.

Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển cây Guita phím lõm hiện nay có sự đóng góp rất lớn của dây Rạch Giá. Theo NSƯT Huỳnh Khải, nguyên Trưởng khoa Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh “chữ lợ của dây cống khi đờn dây hò 3 mà chị Mỹ Châu ca bây giờ thì rất thuận lợi. Hiện nay, nhạc sĩ nào cũng đều vận dụng thang âm của dây Rạch Giá”.

Bàn về sự đóng góp của dây Rạch Giá ra đời gần 100 năm qua, NSƯT Huỳnh Khải, cho rằng: “Chính nhờ dây Rạch Giá, ta chỉ cần xuống dây số 1  một cung là có dây lai. Trong quá trình hình thành các loại dây thì có dây tứ nguyệt, nếu biết dây lai rồi thì chỉ cần lên dây số 4 một cung sẽ có dây tứ nguyệt. Như vậy, dây tứ nguyệt kết hợp dây Rạch Giá thì có dây lai…”.

NSƯT Huỳnh Khải, nguyên Trưởng khoa Âm nhạc dân tộc, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Hạt Phù Sa

Rất cần chính sách bảo tồn

Hiện nay, những nghệ nhân diễn tấu nhịp 16 theo kiểu so dây Măng-đô-lin dần mai một, hầu hết diễn tấu không đúng chữ đờn của dân Rạch Giá nguyên thủy. 

Rất tiếc, hiện nay chưa có tài liệu nào nói chính xác xuất xứ dây đờn Rạch Giá ra đời năm nào, cứ liệu trong bài viết này như nói ở trên chính là kết quả mà các nhạc sĩ sưu tầm, tìm hiểu trong dân chúng, giới mộ điệu và các nghệ nhân lớn tuổi ở Nam bộ, đặc biệt là ở tỉnh Rạch Giá trước đây, nay là phường Rạch Giá, tỉnh An Giang. Qua tìm hiểu, các nhạc sĩ, nghệ nhân đều cho biết, hiện nay không còn bản đờn của dây Rạch Giá. 

Nhiều nhà nghiên cứu, nghệ nhân âm nhạc truyền thống, đặc biệt là giới tài tử, cải lương trong khu vực, trong tỉnh đều mong muốn cần nghiên cứu, tìm kiếm trong dân gian để lưu giữ, bảo tồn “dây đờn Rạch Giá”. NSƯT Huỳnh Khải, cho rằng: Nếu tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn “dây đờn Rạch Giá thì rất quý”. Tuy nhiên, hiện tại “những thang âm của dây Rạch Giá, những kiểu đờn và âm hưởng của dây Rạch Giá vẫn đang được nhiều nhạc sĩ đờn sử dụng, như: NSƯT Văn Giỏi khi đờn dây hò 3 mà chị Mỹ Châu thường ca vẫn có sử dụng dây Rạch Giá, vì có chữ cống cứng. Kế đó là nhạc sĩ Văn Dần, mặc dù lấy theo dây lai, nhưng cung bậc, thang âm vẫn chạy theo dây Rạch Giá hoặc nhạc sĩ Khải Hoàn, nếu các bạn có quan tâm tới các chữ đờn thì cũng nhận thấy rằng thang âm, điệu thức, giai điệu chạy trên cung đờn theo kiểu dây lai vẫn âm hưởng y như dây Rạch Giá”.

   Soạn giả Nguyễn Thiện Cẩn, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang, chia sẻ: “không chỉ sưu tầm, nghiên cứu mà cái quan trọng là từ kết quả nghiên cứu cần phải tổ chức truyền dạy, phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nếu chậm trể thì rất khó, vì các nghệ nhân hiểu biết về dây đờn Rạch Giá đã cao tuổi, nhiều người đã từ trần”.

Là người đã từng truyền dạy âm nhạc tài tử, cải lương cho nhiều thế hệ, NSƯT Nguyễn Hoàng Vũ, Chủ nhiệm Câu Lạc bộ Đờn ca tài tử tỉnh Kiên Giang trước đây, trăn trở: “Việc nghiên cứu, sưu tầm giữa lúc dây đờn Rạch Giá đang đứng trước nguy cơ bị mai một là việc làm rất cần thiết. Theo tôi, hiện nay trong nhân dân thỉnh thoảng vẫn còn nhiều nghệ nhân chơi dây Rạch Giá hoặc diễn tấu ở các đám tiệc. Khi tìm kiếm, sưu tầm người đờn đúng nhất, các nhà chuyên môn sẽ cấu trúc lại để thống nhất về thang âm, điệu thức, phục vụ công tác bảo tồn, lưu giữ, xem nó như một di sản phi vật thể”./.

Hồng Phúc


Ảnh đầu trang: Một tiết mục diễn tấu tại Hội thi Đờn ca tài tử tỉnh Kiên Giang năm 2023. Ảnh: Đoàn Thế Hạnh