AN GIANG NGÀY MỚI

Tờ mờ sương, Núi Cấm như choàng chiếc khăn voan mây. Tiếng chuông chùa rơi từng giọt trong, lăn trên phiến lá ướt rồi vỡ ra thành dải âm thanh chậm và ấm. Từ độ cao này nhìn xuống, đồng bằng mướt xanh một màu lúa non. Tất cả thật nên thơ, đúng như câu ca dao: “Người An Giang thật thà chất phác / Cảnh An Giang man mác hữu tình”. Vào những ngày này, bước chân tôi dọc dài dặm đường, lắng nghe nhịp “An Giang ngày mới” đang hòa cùng nhịp bước của thời đại.

Sáng sớm ở Bảy Núi, có lẽ người ta “thức dậy” bằng đôi bàn tay. Bàn tay nhóm lửa bếp than, bàn tay lần mở trang sách cũ, bàn tay thắt lại dây buộc ống tre đựng nước thốt nốt… Con đường nhỏ men sườn núi còn vương hương trầm của hội chùa hôm trước; góc chợ sớm đơn sơ, mộc mạc với những thau rau rừng, tiếng mặc cả nghe nhẹ nhàng, mềm mại như khói. Anh thợ leo thốt nốt đi ngang, ống tre  treo lủng lẳng đầy thứ nước ngọt thơm, bảo: “Đường thốt nốt này phải được thắng bằng kiên nhẫn, như mình thắng thời gian vậy”. Tôi cười xòa, nghĩ đến cái cách miền núi gửi vào miếng ngọt dân dã thảo thơm.

Trên những con đường nhựa thênh thang, tiếng líp xe học trò lướt nhẹ hòa vào nhịp máy gặt đều như nhịp thở của cánh đồng; tiếng gọi nhau rộn rã giữa mùa vàng trĩu hạt. Bờ ruộng bên kia, câu chuyện vụ mới râm ran: nào là giống chịu mặn, quy trình sạch, nào là đơn hàng đi xa. Những hạt lúa nhỏ xíu trong lòng bàn tay chai sần của nhà nông óng ánh như giọt nắng cuối chiều. Và từ những thửa ruộng, người ta đã học cách nghĩ dài hơn: hôm nay làm cho vững thì mai con cái đi học đỡ lo; hôm nay giữ đất cho lành thì mai mùa nước nổi về bớt xót xa cho bờ bãi.

Đi qua những nhịp cầu bắc ngang kênh rạch, tôi chợt nghĩ tới những chiếc cầu khác đang âm thầm dựng lên trong tâm trí mỗi người: những nhịp cầu của kết nối, của mở lối. An Giang hôm nay “mang hình hài mới”, là một không gian phát triển rộng mở, gắn kết núi, đồng, biên giới và biển đảo liền mạch, như tấm lụa Tân Châu được dệt lại bằng sợi mới mà vẫn ngan ngát mùi nắng cũ. Những con chữ trong nghị quyết, giờ đây đã đi thẳng vào đời sống nhân dân. Những suy nghĩ về hạ tầng, về quản trị tinh gọn, về động lực phát triển bỗng gần hơn với bữa cơm của mỗi nhà. 

Gần trưa, gió trên Tứ giác Long Xuyên thổi bông lúa nghiêng hẳn về một phía. Mùi rơm phơi chen với mùi máy dầu, xa xa là tiếng còi container như tiếng gọi của một bến bờ khác. Người công nhân trong khu chế biến cá dỡ tấm khẩu trang, lau vội giọt mồ hôi, bảo: “Hàng đi cho kịp chuyến”. Người lái xe chạy tuyến dài nói sau tay lái: “Đường mới sẽ đỡ nhọc, nối ruộng với cảng nhanh thêm mấy giờ”. Họ không nói những từ lớn lao, chỉ kể chuyện ca đêm, bữa cơm nguội, niềm vui khi ký được lô hàng mới, những điều nhỏ mà nối vào nhau thì thành một dòng chảy chắc chắn.

Buổi trưa đứng bóng, tôi ghé qua trạm dừng mới trên trục đường lớn. Nắng đổ xuống mái tôn, ánh lên bức bản đồ tỉnh như một mặt gương khổng lồ: phía này núi, phía kia biên giới, ngoài đó là biển và đảo. Một cán bộ kỹ thuật ngồi gạch trên sổ tay những mốc tiến độ của công trình, giở trang có ghi “Châu Đốc–Cần Thơ–Sóc Trăng” rồi lại lật sang “Hà Tiên–Rạch Giá–Bạc Liêu”. Tôi nghe anh nói với đồng nghiệp về “đòn bẩy liên kết vùng”, về “đi lại liên thông”, về “một cung đường cho nhiều loại hàng hóa”. Những cụm từ tưởng như khô khan bỗng như có nhịp tim tràn đầy sức sống, vì tôi nhìn thấy chúng đi cùng với đôi mắt sáng của những người đang cặm cụi ngoài công trường. Những con đường mới kể cả dải tuyến ven biển sẽ bắc nhịp nối núi và biển, nối giấc mơ và thị trường, để hạt gạo từ bờ ruộng tìm đường ra bữa cơm ở rất xa, để con cá tra bơi từ lồng bè bước lên chuyến tàu lạnh… 

Rời đồng bằng, tôi ghé cửa khẩu; chợ biên giới vẫn náo nức nhịp bán mua. Tiếng mấy chị tiểu thương lanh lảnh: “Đổi tiền lẻ cho dễ thối nha!”. Cậu bé với nước da đen nhẻm, đôi mắt trong veo vừa tan học đã đến phụ mẹ bán đặc sản, líu lo chào mời khách tham quan. Khi ấy tôi chợt nhận ra, đường biên không chỉ là vạch kẻ trên bản đồ, mà là lối qua lại, là cuộc thương lượng tử tế, là sợi dây kết nối người với người bằng niềm tin.

Chiều xuống, tôi ngồi ở bến Rạch Giá, nghe tiếng sóng vỗ. Mùi muối gió chạm vào môi, mằn mặn như một lời hứa khó gọi tên. Phía ngoài kia, những cánh quạt gió xoay đều; gần hơn là bóng những chiếc tàu rúc rích nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ của đèn tín hiệu. Trên bến, một chị công nhân môi trường gom rác biển, chiếc bao tải lấp lánh vỏ sò. “Việc nhỏ mỗi ngày” chị nói, “nhưng biển sẽ cảm ơn mình bằng màu xanh mát!”. Tôi bỗng nhớ đến mấy mái nhà vừa lắp pin năng lượng, đến cái cách mà làng xóm xoay vần để sống thuận theo gió nắng. Người ta gọi đó là “kinh tế xanh”, còn tôi thấy đó là một phép cộng đẹp, đó là cộng giữa truyền thống và công nghệ, giữa tiết kiệm và sáng tạo, giữa bền bỉ và khát vọng. 

Đêm muộn, gió biển thổi mùi rong rêu lên mặt cầu cảng. Tôi nghĩ về bản đồ mới với những đường biên uyển chuyển, về bộ máy tinh gọn hơn, những thủ tục được số hóa để người dân bớt phải chờ đợi. Nghĩ về những tuyến cao tốc, về những đôi bàn tay thầm lặng của nông dân, công nhân, thầy cô, y bác sĩ, lái xe, tiểu thương, công nhân môi trường đang đặt viên gạch của mình vào nền móng vững chắc cho ngày mai. Một tỉnh lớn không nhất thiết ồn ào; một bước ngoặt lịch sử không nhất thiết phải phô trương. Nó có thể đến bằng cách một đứa trẻ ở vùng núi nhận học bổng để ra đảo tham quan bảo tàng biển; bằng ca phẫu thuật tim ở bệnh viện tỉnh, sau đó bệnh nhân nhìn thấy khung trời xanh qua cửa sổ; bằng chuyến xe đêm chở nông sản đúng giờ vào kho lạnh; bằng tấm ảnh tập thể ở công trường dọc tuyến ven biển, nơi gió đánh cát bụi bám lên má nhưng nụ cười thì vẫn hiền hòa, tươi rói.

Tôi mở cuốn sổ tay nhỏ xinh, viết một dòng nhỏ: “Một tỉnh với bốn biên độ: núi, đồng bằng, biên giới, biển đảo”. Dòng chữ run theo nhịp tàu, chữ nghiêng như sóng. Tôi biết có người sẽ nói chuyện quy mô, con số, bản đồ; nhưng khi đứng ở đây, thứ hiện lên rõ nhất là gương mặt. Gương mặt của bác gánh nước thốt nốt ở Núi Cấm, của chị công nhân giữa trưa đổ lửa, của em học trò qua cầu kênh đến lớp, của người lính biên phòng kiểm soát giấy tờ với nụ cười hiền, của cô phục vụ nhà hàng nơi đảo xa dắt tay bà cụ qua bậc tam cấp…. Những gương mặt chân chất thân quen mà mỗi nụ cười là một con sông, mỗi ánh mắt là một vì tinh tú.

Đến lúc này, tôi không còn cần những lời hoa mỹ. Chỉ muốn nói điều giản dị: “An Giang ngày mới” đang đi bằng bước chân thường ngày. Bước chân của người dậy sớm, của người làm muộn, của người giữ nhịp an toàn, của người gieo chữ, của người cứu tim… Tất cả những bước chân ấy đi trên những con đường đang mở, những cây cầu đang vươn, những cánh cửa đang mở đón bình minh. Và khi những bước chân ấy chạm nhau giữa ngã ba đời sống, chúng sẽ hiểu nhau, nhận ra nhau và đi cùng nhau.

Đêm đã sâu. Biển thở đều như nhịp ngủ của một đứa trẻ. Trên cao, đèn hải đăng quét một vòng sáng dài. Tôi khép sổ, cất bút. Trong bóng tối có thể nghe rõ tiếng tim mình: vững chãi và bình yên. Ở nơi ngọn gió mang mùi muối biển này, tôi hiểu rằng tương lai không nằm ở đâu xa, tương lai nằm trong cách ta mở lòng với nhau, mở đường cho nhau, và mở cửa sổ ra đón gió mới.

An Di


Ảnh: Biển chiều | Nguyễn Tuấn