Ảnh hưởng của tiếng Pháp đến văn hóa Nam bộ

Miền Nam được xem là vùng đất tiếp xúc sớm và lâu dài với văn hóa Pháp. Gần một thế kỷ là thuộc địa, vùng đất nầy đã đón nhận nhiều ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa Pháp. Một trong những khía cạnh nổi bật là ngôn ngữ khi tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thức về mặt hành chánh. Tiếng Pháp không chỉ bổ sung hệ thống từ vựng phong phú cho tiếng Việt miền Nam, mà còn để lại những ảnh hưởng trên nhiều phương diện, góp phần làm thay đổi và đa dạng hóa đời sống văn hóa xã hội, đồng thời giúp vùng đất nầy nhanh chóng tiếp cận và với hội nhập với thế giới hiện đại phương Tây.

1. Bối cảnh Nam Kỳ tiếp xúc văn hóa Pháp

Từ khoảng thế kỷ XVI – XVIII, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc văn hóa phương Tây, thông qua con đường chủ yếu là giao thương, tập trung chủ yếu ở miền Trung. Những thành tựu trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa như chữ Quốc ngữ, khoa học tự nhiên, y học, luật pháp, quân sự, nghệ thuật… đã bắt đầu ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam. Sau đó, thời Pháp thuộc là giai đoạn tiếp xúc và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ nhứt, ảnh hưởng trên nhiều bình diện. Hiện tượng nầy càng nổi bật đối với Nam Kỳ lục tỉnh, bởi nơi đây là thuộc địa của Pháp.

Miền Nam là vùng đất đa dạng về văn hóa và nhiều biến động về lịch sử từ những ngày đầu khai phá đến thời hiện đại. Dù ở giai đoạn nào, đây vẫn là nơi đi đầu trong tiếp nhận những làn sóng văn hóa mới. Đặc biệt, giai đoạn Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp (1867 – 1945), kéo dài sang giai đoạn Pháp trở lại xâm lược Đông Dương lần thứ hai (1945 – 1954), phần lớn diện mạo văn hóa của vùng đất nầy đã biến đổi và phủ lên một lớp văn hóa mới.

Trong quá trình cai trị, chánh quyền Pháp đẩy mạnh truyền bá văn hóa phương Tây vào xã hội Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng. Tuy nhiên, do đây là nền văn hóa hoàn toàn khác biệt với văn hóa Á Đông mà người Việt đã quen thuộc hàng ngàn năm, nên quá trình tiếp xúc văn hóa không tránh khỏi ít nhiều sốc văn hóa. Một mặt, một bộ phận cư dân chủ động giao lưu tích cực với văn hóa phương Tây, đón nhận những giá trị mới, xem đó là văn minh. Bên cạnh đó, một bộ phận kiên quyết phản kháng với giao lưu văn hóa, xem đó là thứ văn hóa “ngoại lai”.

Tuy nhiên, sau quá trình tiếp xúc văn hóa Pháp, kết quả là hệ thống giá trị văn hóa ở Nam Bộ biến đổi lớn trên cả hai bình diện vật chất lẫn tinh thần. Người dân dần xa rời tư tưởng Nho giáo, chủ động đón đầu những xu hướng từ phương Tây, thích nghi và hội nhập với hoàn cảnh xã hội mới. Điều đó khiến nơi đây trở thành vùng đất tiên phong trong giao lưu văn hóa phương Tây, góp phần tăng thêm sự phong phú cho văn hóa Việt Nam thời hiện đại, bổ sung lớp văn hóa mới vào tiến trình văn hóa dân tộc.

2. Tiếng Pháp trong quá trình giao lưu văn hóa

2.1. Đóng góp vào hệ thống ngôn ngữ

Gần một thế kỷ tiếp xúc văn hóa Pháp đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn hóa Nam Bộ, một trong những khía cạnh tiêu biểu và có ý nghĩa quan trọng là ngôn ngữ. Có thể nói, tiếng Pháp đã góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ quốc gia. Trong một số lãnh vực chịu ảnh hưởng tiếng Pháp, hàng loạt từ ngữ mới được vay mượn để diễn đạt những khái niệm mới mà trước đó chưa xuất hiện trong tiếng Việt, từ đây chúng đã chính thức đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt đến nay.

Trong văn hóa mưu sinh, một số từ ngữ liên quan đến kinh doanh được tiếp nhận như nhà băng, quán ba, tiền boa, bồi bàn, ma cô, cu li, ê kíp…

Trong văn hóa ẩm thực, có thể nói đây là một trong những khía cạnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Pháp nói riêng và phương Tây nói chung. Nhiều thức ăn, thức uống từ phương Tây du nhập vào Việt Nam và được người dân ưa thích, sử dụng đại trà. Điều đó dẫn đến việc sử dụng tiếng Pháp để gọi tên những món ấy khi chúng chưa có tên bằng tiếng Việt. Về thức uống có cà phê, ca cao, cốc tai, sâm banh, bia… Về thức ăn có ốp la, phô mai, bơ, xúc xích, giăm bông, pa tê, bít tết, thịt phi lê, sô cô la, cà rem, bích quy, bánh mì ba ghết, sa bô chê, sơ ri, cà tô mát, cà rốt, đậu cô ve, súp lơ, xà lách, cải xoong

Trong văn hóa trang phục, Âu phục từ tình trạng bị người Việt phản đối, dần chuyển sang được chấp nhận vì sự tiện lợi. Trang phục phương Tây ban đầu là trang phục công sở dành cho giới trí thức, về sau trở thành trang phục hằng ngày của mọi thành phần dân cư. Do vậy, nhiều từ ngữ mới về trang phục cũng trở nên thông dụng như. Về áo quần có vét tông, com lê, soa rê, ghi lê, bờ lu, sơ mi, may ô, xu chiêng, cóc sê, xì líp, xà lỏn, quần sọt… Về phụ kiện có cà vạt, khăn mu soa, săng đan, bốt, ba lô, va li… Một số từ ngữ khác chỉ chất liệu, hình thức, bộ phận… như cô tông, len, ka ki, ráp lăng, cổ côn, phẹc mơ tuya, mạc…

Trong văn hóa cư trú, các từ ngữ chủ yếu chỉ những vật liệu, bộ phận, vật dụng như xi măng, bê tông, tấm đan, tấm tôn, la phông, ban công, sa lông, sô pha, đi văng, băng ghế, màn ri đô, ăng ten, công tắc, két sắt, ki ốt…

Trong văn hóa giao thông, đây cũng là một trong những khía cạnh chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Pháp. Bởi hầu hết các phương tiện giao thông hiện đại cả đường bộ lẫn đường thủy đều có mặt ở Việt Nam sau khi người Pháp đến. Những từ ngữ gốc Pháp trong giao thông chủ yếu chỉ các loại phương tiện, các bộ phận trên phương tiện, cách thức vận hành phương tiện… Về phương tiện có bắc, sà lan, sà lúp, ca nô, xe ben, cam nhông, mô tô, ô tô, mô bi lết, xích lô… Về bộ phận có ca bin, vô lăng, ghi đông, dây sên, bọc ba ga, bu gi, công tơ mét… Về hoạt động có đề pa, xi nhan, de xe… Ngoài ra, những từ ngữ có liên quan khác như nhà ga, đường rầy, kinh xáng, cạc vẹt, xăng…

Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, những từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Pháp chủ yếu chỉ các thành phần trong xã hội như bà đầm, me xừ, ông cò, sếp, mã tà, toa, moa… Một số từ ngữ chỉ các mối quan hệ trong công việc như băng nhóm, sô lô, hợp gu, hợp rơ, ba rem, ăn kết… Ngoài ra, nhiều từ ngữ chỉ các hiện tượng xã hội và các khía cạnh có liên quan khác như mít tinh, xì căng đan, xê mi na…

Trong thông tin truyền thông, nhiều từ ngữ mới chủ yếu liên quan đến báo chí và các hình thức tuyên truyền như ma két, măng sét, tít, giấy can, cát sét, ô bạc lơ, băng rôn, ba nô, áp phích…

Trong văn học nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật mới du nhập vào Việt Nam được sử dụng từ tiếng Pháp như xiệc (xiếc), phim, xi nê, điệu van, tăng gô, búp bê… Bên cạnh đó, nhiều từ ngữ chỉ các dụng cụ liên quan đến văn học nghệ thuật mà tiếng Việt chưa có từ tương ứng để diễn đạt như ghi ta, măng đô lin, bút bi…

Người miền Nam đã tiếp nhận các từ ngữ Pháp một cách ôn hòa, đưa vào sử dụng đại trà và xem chúng như một bộ phận trong hệ thống ngôn ngữ phổ thông. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, họ cố gắng bản địa hóa chúng, nhờ vậy tiếng Pháp có thể dễ dàng tiếp cận và bén rễ vào đời sống cư dân nơi đây.

2.2. Làm thay đổi diện mạo văn hóa xã hội

Sự du nhập những món ăn mới, trang phục mới, phương tiện giao thông mới… có nguồn gốc phương Tây mà tiếng Việt chưa có từ ngữ tương ứng, buộc phải sử dụng tiếng Pháp để diễn đạt, không chỉ bổ sung cho hệ thống ngôn ngữ quốc gia như vừa trình bày, mà còn làm thay đổi căn bản diện mạo văn hóa xã hội Nam Kỳ trên nhiều bình diện.

Người Việt bắt đầu sử dụng tiếng Pháp rộng rãi trong đời sống thường ngày đã phần nào phản ánh sự tiếp nhận văn hóa phương Tây. Chẳng hạn, các từ ngữ về ẩm thực hay trang phục được sử dụng khi người Việt có nhu cầu sử dụng các sản phẩm tương ứng trong văn hóa Pháp. Trên phương diện hành chánh, tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thức, sự giao tiếp giữa người dân với các cơ quan công quyền đa phần phải sử dụng tiếng Pháp. Không chỉ thế ở phương diện giáo dục, tiếng Pháp được đưa vào giảng dạy bắt buộc tại các trường học thay cho chữ Hán, đồng thời chế độ khoa cử phong kiến bị xóa bỏ, chuyển sang mô hình giáo dục kiểu phương Tây, chú trọng các môn khoa học.

Báo chí và văn chương hiện đại dần phát triển và đa dạng về thể loại, đề tài, phong cách… Báo chí xuất hiện trước tiên bằng tiếng Pháp nhằm phục vụ nhu cầu thông tin của chánh quyền thực dân. Dần về sau, người Việt đã học hỏi cách làm báo của người Pháp để xuất bản những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán. Tờ báo bằng tiếng Pháp đầu tiên ở Việt Nam là Le Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo) ra đời vào năm 1861 ở Sài Gòn. Sau đó không lâu, tờ báo bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời vào năm 1865 cũng tại Sài Gòn. Sự góp mặt của báo chí khi đó đã góp phần nâng cao dân trí và thức tỉnh tinh thần dân tộc.

Tiếp nhận nền văn học Pháp, sự ra đời của văn học bằng chữ Quốc ngữ đã chuyển hướng nền văn học Việt Nam sang phong cách phương Tây, thay thế cho các hình thức biền ngẫu, chương hồi, điển tích… trước đó. Người Việt không chỉ dịch thuật hoặc phóng tác từ các tác phẩm văn học phương Tây, mà còn tự sáng tác các tiểu thuyết mới theo khuynh hướng hiện đại, mang ảnh hưởng phong cách văn học Pháp. Tiểu thuyết đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là tác phẩm Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản vào năm 1887. Những tên tuổi khác tiêu biểu cả hai mảng dịch thuật lẫn sáng tác như Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Chánh Chiếu, Trương Minh Ký…

3. Lời kết

Thời thuộc địa, Nam Kỳ đã tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây mà đại diện là văn hóa Pháp, từ đó làm thay đổi căn bản diện mạo văn hóa xã hội trên nhiều bình diện. Song, văn hóa phương Tây đến chủ yếu bằng con đường cưỡng bức, cư dân vùng đất nầy có lớp văn hóa bản địa vững chắc và ý thức cao về bản sắc dân tộc, do đó họ không bị nô dịch về văn hóa. Trái lại, họ chủ động chọn lọc những yếu tố có giá trị tích cực để đón nhận, đồng thời năng động sáng tạo để biến đổi cho phù hợp với văn hóa dân tộc.

Về phương diện ngôn ngữ, người miền Nam đã chủ động và tích cực đón nhận những lớp từ ngữ mới từ tiếng Pháp, không xem là yếu tố ngoại lai có ảnh hưởng tiêu cực đến ngôn ngữ dân tộc, mà cố gắng bản địa hóa để gần gũi với đời sống thường ngày. Từ đó đến nay, các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Pháp đã bén rễ vào tiếng Việt và trở thành một bộ phận trong ngôn ngữ Việt Nam ngày nay. Có thể nói, sự tiếp nhận tiếng Pháp trong văn hóa Nam Bộ là một trong những bước mở đầu cho Việt Nam hội nhập với thế giới hiện đại

VĨNH THÔNG


Ảnh: Trải nghiệm làng nghề | Cao Minh Dẹt