KHÔNG GIAN BAO LA, RỘNG LỚN TRONG THƠ VIẾT VỀ BÁC TÔN
Hình tượng Bác Tôn đã trở thành nguồn cảm hứng lớn trong thơ Việt Nam hiện đại. Nhiều tác giả đã khắc hoạ Bác Tôn với tầm vóc sử thi, đặt hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng giữa không gian bao la của trời cao, biển rộng, sông dài để tôn vinh vẻ đẹp và khí phách phi thường của Bác Tôn. Nhìn chung, các bài thơ viết về Bác Tôn thường sử dụng bối cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, bầu trời mênh mông, đại dương cuộn sóng, trường giang bát ngát, đại bàng giương cánh bay cao… như một phông nền nghệ thuật nhằm làm nổi bật phẩm chất anh hùng, sự nghiệp vĩ đại và tầm vóc lịch sử của cuộc đời Bác Tôn. Các nhà thơ đã khai thác hình tượng Bác Tôn trong không gian rộng lớn của thiên nhiên để tô đậm vẻ đẹp sử thi và tầm vóc kỳ vĩ của nhân vật lịch sử này.
Một trong những sự kiện nổi bật làm nên huyền thoại Bác Tôn là việc tham gia cuộc binh biến trên Biển Đen năm 1919, kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm của Pháp để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Sự kiện này thường được thơ ca tái hiện bằng những hình ảnh không gian hùng vĩ của biển cả mênh mông và bầu trời cao rộng, nhằm nhấn mạnh tầm vóc lịch sử của hành động ấy. Nhà thơ Bảo Định Giang, trong bài thơ “Tôn Đức Thắng!”, đã dựng lên khung cảnh sử thi: “Giữa trời cao, biển rộng mênh mông / Một con người có tâm hồn cao đẹp và khí phách vô song / Đi ra từ xưởng Ba Son tô hồng trang sử mới” (Thơ viết về An Giang, 2008, tr.101). Giữa phông nền bao la của thiên nhiên, bầu trời cao thẳm và đại dương vô tận, nổi bật hình ảnh Bác Tôn với tâm hồn cao đẹp, khí phách vô song. Không gian “trời cao, biển rộng” ở đây gợi liên tưởng tới tầm vóc phi thường, đặt con người vào thế so sánh ngang tầm với sự bao la của vũ trụ. Hành động kéo cờ trên Hắc Hải không chỉ là hành động của một người thủy thủ bình thường, mà hiện lên như một thiên anh hùng ca, khiến nhân vật sánh vai cùng trời biển. Cùng khắc họa thời điểm lịch sử này, trong bài thơ ‘Người ông, Đồng chí!” nhà thơ Bảo Định Giang ví von: “Cờ nghĩa giương cao trời Hắc Hải / Từ cánh tay người thợ Ba Son / Phút thiêng liêng nghe tim rỉ máu / Nhìn trời Nga thêm xót nước non” (Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.30). Hình ảnh lá cờ cách mạng tung bay trên nền trời Hắc Hải bao la đã tạc nên tượng đài Bác Tôn sừng sững giữa trời biển, kết nối khát vọng dân tộc Việt với phong trào cách mạng thế giới.
Không chỉ miêu tả bề rộng của không gian, các nhà thơ còn nhấn mạnh chiều cao và sự vĩ đại bằng cách đưa hình ảnh Bác Tôn vươn lên tầm vũ trụ. Trong tưởng tượng của nhà thơ Phù Sa Lộc, việc Bác Tôn kéo lá cờ đỏ trên Biển Đen được phóng đại thành một biểu tượng vũ trụ: “Khi kéo ngọn cờ hồng chắc Bác nhớ khúc dân ca / Giọng hò nghẹn ngào trôi dòng Hậu Giang đỏ sóng / Khi Bác kéo ngọn cờ hồng là kéo lên một trời nắng ấm / Rực rỡ quê Người, chói lọi cả hành tinh” (Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.42). Bài thơ xây dựng hình tượng Bác Tôn trên phông nền không gian được khuếch đại tối đa, từ mặt sông Hậu Giang đến bầu trời rực nắng và “cả hành tinh”. Chính phép khuếch đại ấy khắc họa tầm vóc kỳ vĩ của người thợ máy Ba Son năm xưa. Hành động “kéo ngọn cờ hồng” được đặt trong biên độ chiều cao vô hạn: lá cờ không dừng ở cột buồm, mà được thi sĩ phóng chiếu “lên một trời nắng ấm”. Hình ảnh trời cao hàm ý chiều kích vũ trụ, gợi liên tưởng đến những lực hấp dẫn tinh thần vươn lên khỏi giới hạn địa phương, dân tộc. Khi lá cờ nhập vào vầng thái dương, nó trở thành biểu tượng ánh sáng vĩnh cửu, một nguồn năng lượng cách mạng liên tục tỏa chiếu. Không gian chiều rộng mở ra với “dòng Hậu Giang đỏ sóng” rồi tỏa rộng đến “chói lọi cả hành tinh”. Con sông quê nhà, vốn nhỏ trong bản đồ thế giới, được nhuộm sắc đỏ phù sa để hòa điệu cùng màu cờ. Nhờ liên tưởng ấy, đường biên quê hương lập tức nới rộng: nước sông mang ý nghĩa lưu thông, kết nối; còn “hành tinh” là điểm tận cùng của phép phóng đại, nhấn mạnh sức lan tỏa toàn cầu của lý tưởng Bác Tôn. Điệp ngữ “Khi Bác kéo ngọn cờ hồng”, xuất hiện hai lần ở đầu và giữa đoạn, tạo thành trục nhịp điệu, như đòn bẩy đẩy hình tượng nhân vật lên đỉnh cao huyền thoại. Nếu lần điệp thứ nhất còn gắn với ký ức “khúc dân ca”, thì lần hai đã nâng tầm hành động thành sự kiện ánh sáng soi rọi vũ trụ. Quỹ đạo chuyển dịch ấy (từ hồi tưởng mang tính “đất” tới khẳng định tính “trời”) chính là lộ trình khẳng định tầm vóc Bác Tôn, đó là xuất phát từ miền sông nước bình dị nhưng lý tưởng của Người vươn tới phạm vi bao la của nhân loại. Bài thơ biến một hành động cụ thể thành biểu tượng siêu hình và Bác Tôn không chỉ kéo cờ, mà đang “kéo” cả bầu nhiệt huyết và tương lai nhân loại lên cao. Nhờ vậy, vẻ đẹp của Bác Tôn được khắc họa không phải bằng đường nét dung dị thường gặp trong thơ, mà bằng chiều cao (trời), chiều rộng (biển, hành tinh) và chiều sâu (dòng sông ký ức), ba tọa độ dựng nên một bức tượng đài tinh thần kỳ vĩ. Ẩn dụ “một trời nắng ấm” ở đây ngụ ý rằng hành động nhỏ bé trên boong tàu năm xưa thực chất đã mang lại ánh sáng và hơi ấm cho cả quê hương và “cả hành tinh”. Hình ảnh thơ cường điệu này tôn vinh đóng góp của Bác Tôn có ý nghĩa lớn lao mang tầm vóc toàn cầu, đồng thời gợi nhắc đến lý tưởng quốc tế cao cả mà người chiến sĩ An Giang ấy đã phụng sự.
Nhà thơ Viễn Phương trong bài thơ “Nhớ Bác Tôn bên bờ Hắc Hải” đã kết nối hình tượng Bác Tôn với bình minh của nhân loại: “Thuở chim Lạc mịt mờ đêm lạnh / Tuyết trời Nga phủ trắng áo Lê Nin / Miền Hắc Hải dập dồn sóng gió / Bác kéo lá cờ hồng báo hiệu một bình minh” (Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.64). Hình ảnh bình minh tượng trưng cho kỷ nguyên mới, cho sự thức tỉnh của tự do và Bác Tôn chính là người đã kéo mặt trời cách mạng lên giữa biển khơi. Tương tự, nhà thơ Viễn Phương khởi sự quỹ đạo ấy bằng bốn dòng thơ hàm súc: “Thuở cờ đỏ tung bay miền Hắc Hải / Giữa Biển Đen rực rỡ một vừng hồng / Dang cánh rộng Bác thành chim báo bão / Sáng đỏ trời, giọt nước Cửu Long” (Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.60). Câu thơ tạo một không gian đa chiều: mặt biển mở rộng, vừng hồng bùng nổ, chim báo bão lao vút lên. Lá cờ, tâm điểm hành động, biến Biển Đen thành hình ảnh phản chiếu của lý tưởng vô sản. Khi con người “dang cánh” thành chim, kích cỡ không gian được đẩy tới biên bên ngoài địa cầu; Bác Tôn, từ một thủy thủ da vàng, trở thành “chim báo bão”, báo hiệu phong ba cách mạng thế giới.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đặt cùng sự kiện ấy trong nền bão tuyết Ô-đê-xa: “Tuyết rơi trên Ô-đê-xa / Ngoài khơi một vệt dài tàu chiến / Kéo cờ Anh, Pháp đậu đen mờ… Hoa tuyết vẫn bay trời ảm đạm / Ngoài xa đoàn tàu chiến lô nhô / Những nòng đại bác dài đen sẫm / Chỉa về khu xưởng máy đằng xa” (Thơ viết về An Giang, 2008, tr.321). Sự đối lập băng xám – lửa đỏ, súng đen – cờ đỏ khiến thị giác người đọc bị kéo căng. Giữa chiến hạm lô nhô, “người lính da vàng” lặng lẽ với “đôi mắt thẳm sâu” hiện lên như điểm sáng độc nhất trong làn mây u ám và một sự kiện lịch sử chấn động địa cầu: lá cờ Đỏ lật ngược thế cục đế quốc giữa châu Âu băng giá.
Bên cạnh sự kiện Hắc Hải, các bài thơ còn khắc họa những chặng đường sóng gió trên biển cả của cuộc đời Bác Tôn nhằm tôn vinh bản lĩnh kiên cường. Nhà thơ Xuân Diệu, trong bài thơ mừng thọ Bác Tôn, đã dùng hình tượng muối biển và dầu máy để nói về quá trình tôi luyện con người: “Muối biển lại quyện cùng dầu máy / Luyện thép hồn anh! / Ôi! Biển cồn hãy dồi ta tới đáy! / Tập cho ta đứng vững với chung tình”(Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.13). Các câu thơ gợi lên hình ảnh Bác Tôn thuở trẻ lăn lộn nơi biển cả, làm thợ máy hải quân, để “muối biển” (biểu tượng cho gian truân nơi đại dương) hòa với “dầu máy” (biểu tượng cho lao động công nghiệp) mà tôi rèn nên một “tâm hồn thép”. Chính những năm tháng bôn ba lênh đênh sóng nước xa xôi và “nghe lời biển gọi” đã hun đúc nên phẩm chất kiên trung của người chiến sĩ sau này. Nhà thơ Xuân Diệu còn trực tiếp kêu gọi sóng biển thử thách Bác Tôn: “Ôi! Biển cồn hãy dồi ta tới đáy!”, một cách ẩn dụ rằng biển cả chính là trường học lớn rèn luyện ý chí Bác Tôn. Sự rèn luyện ấy khẳng định một điều rằng độ sâu của đau thương tỷ lệ thuận với độ cao của tầm vóc.
Việc đặt Bác Tôn giữa không gian biển trời mênh mông giúp các tác giả phóng đại hình tượng để tương xứng với tầm vóc lịch sử. Thiên nhiên vĩ đại trở thành chiếc gương phản chiếu phẩm chất phi thường của con người. Bác Tôn hiện lên như một phần của trời biển: tầm vóc Người lớn lao và khoáng đạt, tinh thần Người vững chãi như núi cao, biển rộng. Hình tượng “đại bàng đôi cánh bay nghìn dặm” tung hoành giữa trời thơ viết về Bác Tôn cũng xuất phát từ cảm hứng đó. Có thể nói, không gian trời biển trong thơ đã thực sự nâng tầm hình tượng Bác Tôn lên mức sử thi, để lại ấn tượng sâu sắc về một “Người thủy thủ Việt Nam” vượt trùng dương cứu nước, cứu người.
Nhờ việc khéo léo đặt hình tượng Bác Tôn vào không gian thiên nhiên rộng lớn, các thi sĩ không chỉ ca ngợi được khí phách và công lao của Bác, mà còn làm nổi bật chất sử thi và sức sống bất tử của hình tượng này. Các bài thơ đã mượn cái bao la vĩnh hằng của trời đất để khẳng định rằng Bác Tôn tuy mất mà còn sống mãitrong lòng dân tộc. Bài thơ “Nghiêng mình sông núi chịu tang” (Ánh lửa Ba Son, 1988, tr.36-37) của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, sáng tác khi Bác Tôn qua đời năm 1980. Ngay tiêu đề đã mang đậm màu sắc sử thi: cả sông núi nghiêng mình để chịu tang Người. Trong khổ thơ mở đầu, nhà thơ mô tả cảnh non sông khóc Bác Tôn đầy bi tráng: “Cửu Long ngưỡng vọng sông Hồng / Niềm đau thắt cả tấm lòng phù sa / Bác Tôn vừa mới đi xa / Chín triền sông sóng rung nhòa mắt con”. Ở đây, hai dòng sông lớn biểu tượng cho hai miền Nam – Bắc (Cửu Long và sông Hồng) được nhân hóa thành có linh hồn, có đôi mắt. Dòng Cửu Long nơi quê hương Nam Bộ đau xót ngước nhìn ra Bắc, nơi linh cữu Bác Tôn quàn lại, làm “sóng rung nhòa mắt” người con (ẩn dụ giọt nước mắt hòa trong sóng). Không gian sông nước rộng lớn kết nối Bắc – Nam cho thấy tầm vóc dân tộc của Bác Tôn: cả giang sơn đều để tang Người. Hình tượng Bác Tôn trong thơ Trần Mạnh Hảo tiếp tục được nâng lên tầm vũ trụ: “Từ Công Hội Đỏ ngày xưa / Trái tim nhiệt huyết ngỡ vừa Ba Son / Mà không còn nữa Bác Tôn / Núi nghiêng mình với biển cồn chịu tang”. Đây là hình ảnh phúng dụ tuyệt đẹp: núi non cúi xuống, biển cả dậy sóng tiễn biệt Bác Tôn, thiên nhiên bốn bể như cũng cúi đầu trước vĩ nhân. Vòm trời Hà Nội xanh thẳm cũng ôm lấy giấc ngủ ngàn thu của Bác Tôn, còn mây trắng thì ngàn năm quy tụ “về nơi Bác nằm”. Sử dụng loạt hình ảnh trời, mây, núi, biển đầy chất thơ, nhà thơ đã khắc họa Bác Tôn như một tượng đài bất tử hòa vào thiên nhiên vĩnh cửu. Bác Tôn mất đi nhưng hình tượng của Người trường tồn như trời xanh mây trắng, sống mãi trong lòng nhân dân. Đó cũng là ý tứ của câu thơ: “Bác Tôn ơi, Bác mất như còn!”, Người hy sinh thân xác nhưng sự nghiệp và nhân cách vẫn đời đời tỏa sáng: “Ngỡ sông hồng gặp Cửu Long / Hoa tang đã kết triệu vòng trái tim / Bác Tôn xin Bác ngủ yên / Núi sông nghìn thuở bay lên Tiên Rồng / …Lặng yên nào sóng Biển Đông / Để nghe tiếng những dòng sông ru Người / Nhớ thương Bác Tôn muôn đời / Nghìn năm mây trắng về nơi Bác nằm”.
Nhiều tác phẩm khác cũng sử dụng không gian bao la, cao rộng để biểu đạt sự bất tử và ảnh hưởng to lớn của Bác Tôn. Từ đó, hình tượng Bác Tôn trong thơ Việt Nam hiện đại hiện lên với tầm vóc của một biểu tượng sử thi. Trời cao, biển rộng, sông dài, những hình ảnh không gian ấy được các tác giả vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo, khi thì tả thực cảnh quan lịch sử, khi lại tượng trưng cho lý tưởng và phẩm chất, hoặc thậm chí nhân hóa mang tâm trạng, tất cả đều nhằm khắc họa một Bác Tôn gần gũi đời thường và vĩ đại phi thường. Sự kết hợp hình tượng con người với không gian thiên nhiên kỳ vĩ đã tạo nên ấn tượng thẩm mỹ mạnh mẽ đó là: Bác Tôn – con người của non sông, hòa quyện với vận mệnh dân tộc và trời đất.
Thơ Việt Nam hiện đại đã thành công trong việc khắc họa hình tượng Bác Tôn với vẻ đẹp và tầm vóc sử thi thông qua bối cảnh không gian rộng lớn của trời, biển, sông nước. Từ biển Hắc Hải cuộn sóng đến bầu trời quê hương rợp sáng, từ dòng Cửu Long đến mây trời Hà Nội, mọi yếu tố thiên nhiên kỳ vĩ đều được huy động để làm nền tôn vinh một con người vĩ đại. Kết hợp tất cả những ý đó, chúng ta có một Bác Tôn là người chiến sĩ yêu nước kiên trung, và là biểu tượng sáng ngời vĩnh viễn như trời cao biển rộng. Hình tượng thơ ca ấy đã góp phần gìn giữ và truyền bá di sản tinh thần của Bác Tôn cho muôn thế hệ sau, như dòng sông phù sa mãi chảy và bầu trời vạn dặm mãi trong xanh trên quê hương Việt Nam.
TRẦN PHƯỚC SANG
Ảnh: Uống nước nhớ nguồn | Trung Kiên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Nhiều tác giả. (1988). Ánh lửa Ba Son. An Giang: NXB Tổng hợp An Giang
-
Nhiều tác giả. (2008). Thơ viết về An Giang. An Giang: Sở TTTT An Giang
