Mực nhớ đầm đầm: Trang viết Trần Bảo Định

Với Trang viết vương mùi mực nhớ (NXB Tổng hợp, 2025), nhà văn Trần Bảo Định tiếp tục khẳng định tấm lòng nồng nhiệt với văn chương và bút lực đáng nể. Cuốn sách như kết tinh từ một đời trải nghiệm, thấm đẫm tình yêu quê hương và con người phương Nam.

Tập sách gồm tám tiểu luận ngắn, mỗi bài viết là một minh chứng cho khả năng nắm bắt ý tứ tinh tế, vận dụng bút pháp linh hoạt và sự am hiểu sâu sắc về văn hóa Nam Bộ. Nhà văn không chỉ phân tích sắc sảo các tác phẩm văn học, các công trình nghiên cứu mà còn lồng ghép những dẫn chứng từ văn hóa dân gian, như câu hò, điệu lý, để làm nổi bật giá trị nhân văn và bản sắc vùng miền. Chẳng hạn, khi bàn về “Bước đầu tìm hiểu chuyên khảo “Khí chất Nam Bộ qua truyện Sơn Nam” của Đinh Thị Thanh Thủy”, ông viết: “Sinh hoạt nghệ thuật-giải trí Nam Bộ hiện lên đặc sắc, phong phú, sống động, tươi tắn. Trong từng câu hò câu hát, người bình dân ký thác bao tâm sự, nỗi niềm cay cực số phận, cũng nhưng phẫn uất trước các tầng áp bức. Đó là những ký ức văn hóa mà trang sử khó có thể chuyển tải” (tr17). Chính lối tiếp cận liên ngành, gắn kết văn hóa và văn chương, giúp tiểu luận của ông có chiều sâu mà không hề khô khan.

Dù nghiêng về phê bình, Trang viết vương mùi mực nhớ vẫn đậm đặc chất hoài niệm và tinh thần gìn giữ cội nguồn văn hóa. Nhà văn luôn nhấn mạnh mối liên hệ giữa sáng tác văn chương với bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái, truyền thống gia đình và nhịp sống đương đại. Trong mỗi đoạn đánh giá, nhà văn luôn khéo léo lồng ghép vào những hình ảnh thân thuộc: “Cá nước, chim trời là của tự nhiên miền cực Nam đất nước. Sống hòa hợp, thích nghi với văn hóa sông nước Nam Bộ để cùng tồn tại là thuận tự nhiên”. (“Bước đầu tìm hiểu chuyên khảo “Khí chất Nam Bộ qua truyện Sơn Nam” của Đinh Thị Thanh Thủy, tr99​).

Không chỉ vậy, mỗi trang sách không chỉ là phê bình văn chương, mà còn là một nhịp thở chan chứa tình yêu cuộc đời. Như một khẳng định đẹp đẽ, ông viết: “Diễn ngôn yêu thương của nhà văn Võ Thu Hương bắt đầu bằng sự phát hiện và nhận thức theo chiều sâu những lẽ màu nhiệm của cuộc sống. Đó là những điều vốn gần gũi dù nhỏ bé hay đơn sơ nhưng lắm khi chúng ta không phát hiện ra.” (“Diễn ngôn yêu thương của Võ Thu Hương”, tr 142–143​). Cũng với cái nhìn thấm đẫm nhân văn ấy, khi phân tích Tản văn Huỳnh Như Phương, tác giả tha thiết nhắc đến triết lý giản dị mà sâu xa: “thương người như thể thương thân”. Ông nhắn nhủ rằng, chỉ cần “lắng lòng” trong tiếng hò, câu hát, chúng ta sẽ thấy những tầng sâu giá trị tình quê, tình đất, tình người.

Trong mỗi trang viết của ông, những ngòi bút hiện ra như một nhân vật văn học sống động, và “những đứa con tinh thần” của họ được ông đón nhận bằng tâm thế sẻ chia thay vì phán đoán. Chính sự thân mật ấy cho thấy một giọng phê bình “cùng phía” với người sáng tạo. Ông không lấy cái biết để áp đặt, mà lấy cái hiểu để đối thoại: “Trang viết không hiện ra như “bản kê khai” bệnh trạng tâm thức của các văn sĩ mà hiện ra như lời tỏ bày, thổ lộ, thì thầm với bạn văn chương” (“Trần Hoài Anh: Đi tìm thanh đồng vọng – Những nhịp cầu văn chương”, tr91). Và đặc biệt là không khó để bắt gặp cách ông dẫn dắt tinh tế, chẳng hạn như: “Trong cái buồn bã có phần phảng phất dư vị hiện sinh, phải chăng có thể nhận ra chút ít “vô thường” của Thích – Lão” (tr95). Từ văn học, ông dẫn dắt đến triết học phương Đông, tạo chiều sâu tư tưởng​. Một cách tiếp cận “triết-luận” khác cũng thể hiện chiều sâu tri thức và tính chủ thể của người viết, đó là: “Dường như, nhãn quan của chủ nghĩa hiện sinh mang lại cho nhà phê bình họ Trần một phương pháp, phương tiện để nội soi bản thể của văn nhân thi sĩ” (tr94). Ở đây, Trần Bảo Định không chỉ lý giải vì sao con người viết như vậy, mà còn chiêm nghiệm về điều gì đang vận hành trong tầng sâu của bản thể họ. Điều này thể hiện một chiều sâu tư tưởng và tính chủ thể mạnh mẽ của người viết phê bình – người vừa lý giải, vừa tri âm.

Qua tiểu luận, ta còn thấy được tư duy phê bình sinh thái – văn hóa của Trần Bảo Định mang dấu ấn riêng. Ông thường liên hệ tác phẩm với môi trường sống, thiên nhiên sông nước, văn hóa lúa nước. Chất nhân văn và tình yêu môi trường không lên gân mà nhẹ nhàng len lỏi trong từng dòng chữ. Khi luận bàn về “Khí chất Nam Bộ qua truyện Sơn Nam của Đinh Thị Thanh Thủy” , ông cho rằng:Sinh cảnh trù phú hôm nay là kết quả có được của bao thế hệ xương tàn cốt rụi trên mảnh đất này. Đó là những con người góp phần bồi tụ nên vẻ đẹp sáng tươi của nhân cách văn hóa Nam Bộ” (tr25). Bên cạnh đó, hơi thở miền sông nước còn thấm đẫm qua từng nhận định về Trôi, Chuyện làng trên mạng, hay các chuyên khảo văn hóa dân gian. “Chuyện làng trên mạng ví như viên sỏi nhỏ ném xuống mặt hồ, không phát tán âm thanh ồn ào. Song, có sức lan tỏa gây chấn động các lớp nước trong lòng hồ, rung từng cơn khiến người đọc cồn cào gặm nhấm những chiêm nghiệm cuộc đời.” (“Triết lý lịch sử – nhân sinh trong Chuyện làng trên mạng”, trang 153​).

Đọc Trang viết vương mùi mực nhớ, ta thấy được văn phong đặc trưng: hòa quyện giữa lý luận và cảm xúc. Người đọc không chỉ tiếp nhận phân tích sắc sảo mà còn cảm nhận được một hồn văn gần gũi, nơi từng con chữ phảng phất mùi mực, thấm đượm nghĩa tình. Sức hấp dẫn của tập tiểu luận này không đơn thuần đến từ chiều sâu học thuật, mà còn từ giọng văn điềm đạm, từ tốn, đậm đà phong vị “miệt vườn” phương Nam. Trần Bảo Định không triết luận nặng nề, mà lựa chọn cách truyền cảm, nhẹ nhàng, làm lay động lòng người. Chính điều đó tạo nên không gian văn chương chan chứa yêu thương, vượt xa khuôn khổ một tác phẩm phê bình thông thường.

Có thể nói Trang viết vương mùi mực nhớ là tập tiểu luận phê bình vừa học thuật vừa gần gũi, vừa sâu sắc vừa ấm áp. Ở đó, nhà văn khẳng khái thể hiện quan niệm phê bình, văn chương và đạo làm người. Ở đó, nhà văn Trần Bảo Định dồn nén tâm huyết, mời người đọc bước vào thế giới văn chương – văn hóa miền Nam, với những trang viết “vương mùi mực” đầy gợi nhớ, gợi thương. Nếu ai đã từng yêu mến một Trần Bảo Định dung dị mà sắc sảo, khi gặp lại ông trong cuốn sách này, hẳn sẽ thêm phần mừng vui bởi ông vẫn viết đều tay, vẫn thủy chung với văn chương bằng tất cả chân thành: “Mực nhớ đầm đầm viết chữ: Thương!”.

Huỳnh Cam