Những miền yêu thương thầm lặng
“Lặng yêu” là tập thơ vừa được nhà thơ Hạnh Quỳnh (An Giang) cho ra mắt bạn đọc đầu năm 2026. Ngay từ nhan đề, tập thơ đã gợi lên trạng thái tình cảm lặng lẽ mà sâu sắc, mở ra trước mắt người đọc một thế giới thơ tràn đầy yêu thương và khát vọng. Tập thơ như một khúc nhạc dịu êm cất lên từ giọng thơ nữ đằm thắm, nhẹ nhàng, có nhiều suy tư. Xuyên suốt tập thơ là mạch cảm xúc yêu thương tha thiết: khi rạo rực nhớ thương trong tình yêu đôi lứa, lúc lắng đọng trong tình nghĩa gia đình và nỗi gắn bó với quê hương.
Mạch yêu thương và tình yêu muôn hình trong thơ
Điểm nổi bật của “Lặng yêu” là cách tác giả mở rộng biên độ của yêu thương. Yêu ở đây không chỉ gói gọn trong tình cảm lứa đôi, mà còn thể hiện ở nhiều miền cảm xúc khác: tình vợ chồng, tình mẫu tử, tình quê hương… Những sắc thái ấy đan cài tự nhiên, tạo nên một dòng chảy thống nhất về chủ đề, đồng thời bồi đắp chiều sâu ý nghĩa cho tập thơ.
Trước hết, tình yêu lứa đôi là mảng đậm nét nhất trong Lặng yêu. Nhiều bài thơ khắc họa nỗi nhớ nhung, khát khao và thủy chung của người phụ nữ trong tình yêu. Nhà thơ viết về những cung bậc quen thuộc của tình yêu đôi lứa: nhớ thương khi xa cách, hạnh phúc khi gần gũi, hoài niệm về quá khứ đẹp đẽ, và đôi khi cả những tủi hờn trước thực tại. Những bài thơ như: “Gửi nhớ mười hai”, “Anh của ngày xưa ơi”, “Đi tìm” hay “Chờ xa…” đều xoay quanh nỗi nhớ người thương. Hình ảnh người phụ nữ đợi chờ người yêu được khắc họa xuyên suốt với nhiều cung bậc cảm xúc. Lúc thì lặng lẽ “Em đan tay ngắm sợi thương trước gió” (Gửi nhớ mười hai) trong đêm đông giá lạnh, lúc lại tất tả “Em mệt nhoài lạc chốn mưa rơi” (Đi tìm) giữa cơn mưa đêm trắng xóa. Nhưng dù hoàn cảnh nào, điểm chung là tình yêu của “em” dành cho “anh” luôn vẹn nguyên và cháy bỏng. Ngay cả khi “Cuốn ân tình về tận xa khơi” (Đi tìm), tình yêu ấy vẫn không tắt, mà trở thành động lực để “ta tìm ta… ta thấy những phôi phai” (Đi tìm), tự đối diện lòng mình và càng thấm thía hơn chữ nợ duyên.
Bên cạnh nỗi niềm cách xa, Lặng yêu cũng có những bài thơ rất đẹp về hạnh phúc sum vầy và tình nghĩa vợ chồng. Nếu phần đầu tập thơ là nốt nhạc trầm của khắc khoải nhớ mong, thì phần sau lại sáng lên những nốt ấm áp của hạnh phúc giản dị trong đời thường. Bài thơ “Viếng nhạc sĩ Cao Văn Lầu” chẳng hạn, đã khắc họa tình cảm vợ chồng gắn bó mặn nồng qua bao khó khăn, gợi nhắc về “nghĩa tào khang”: Khi hai trái tim gần/ Khoảng cách chẳng hề xa/ Đất Bạc Liêu em qua/ Một lần để nhớ/ Hò xự xang tình lỡ/ Ơn bản đàn tài tử/ Nhớ người khai sinh… Như nhắc chuyện chúng mình. Giọng thơ ở đây chuyển sang thủ thỉ chiêm nghiệm, chất chứa yêu thương và biết ơn lẫn nhau:
“Em khóc – anh đau chúng mình đùm bọc
Lương ít lương nhiều… Ừ thì vui sống
Trên thuận dưới hòa ta chồng vợ vì nhau
Hạnh phúc là bữa cháo, bữa rau” (Hạnh phúc giản đơn)
Chỉ bốn câu thơ ngắn gọn mà vẽ nên cả bức tranh cuộc sống gia đình đầm ấm: vợ chồng cùng chia sẻ mọi buồn vui, “đùm bọc” nhau như tri kỷ. Dù cuộc sống vật chất còn thiếu thốn (“lương ít lương nhiều”), nhưng họ vẫn “vui sống” nhờ tình nghĩa vẹn tròn (“trên thuận dưới hòa”). Hạnh phúc hiện lên giản dị qua hình ảnh “bữa cháo, bữa rau”, biểu tượng cho những khó khăn đời thường nhưng ấm áp tình thương. Câu kết “Hạnh phúc là bữa cháo, bữa rau” vang lên như một triết lý nhân sinh mộc mạc mà sâu sắc: hạnh phúc lứa đôi không ở đâu xa, chính trong sự hòa thuận và yêu thương nhau dẫu cuộc sống giản đơn. Chi tiết này cho thấy tình yêu thương trong thơ Hạnh Quỳnh không chỉ lãng mạn bay bổng, mà còn gắn liền với thực tế đời sống, với những lo toan “cơm áo” thường ngày. Đó là một cái nhìn trưởng thành, bao dung của người phụ nữ biết chấp nhận thử thách và vun đắp hạnh phúc từ những điều nhỏ bé nhất.
Một mảng yêu thương không thể không nhắc đến trong Lặng yêu là tình cảm gia đình, tình mẫu tử. Nếu tình yêu đôi lứa mang vẻ đẹp lãng mạn thì tình mẹ con, tình quê hương lại được Hạnh Quỳnh thể hiện bằng giọng suy tư, xúc động và trân trọng vô ngần. Bài thơ “Mẹ tôi” và “Tình mẹ”, “Quê hương thứ hai của mẹ” là những điểm nhấn cảm động về công ơn và tình thương của người mẹ. Với hình ảnh “thân cò” lặn lội sớm hôm quen thuộc trong ca dao, thơ Hạnh Quỳnh tái hiện sự hy sinh thầm lặng của mẹ dành cho con:
“Thân cò… một đời che chắn
Bão giông có mẹ ấm lòng con
Giành phần khó nhọc gian truân” (Tình mẹ)
Hình tượng “thân cò” gầy guộc tảo tần gợi lên biết bao liên tưởng về người mẹ Việt Nam tần tảo. Mẹ chính là người suốt đời “che chắn” cho con, nhận về mình mọi “khó nhọc gian truân” để con được “ấm lòng” vượt qua bão giông cuộc đời. Giọng thơ chợt lắng xuống, trầm buồn và thấm thía như một lời tri ân. Không còn “anh”,“em” tình tự nữa, mà là tiếng gọi “Mẹ” thiêng liêng. Tác giả đã thực sự hóa thân vào vai người con để cất tiếng lòng biết ơn vô hạn với mẹ. Những câu thơ giản dị mà rung động này hẳn sẽ khiến nhiều độc giả rơi nước mắt, nhất là những ai từng trải qua cảnh xa mẹ, mất mẹ. Bởi lẽ, tình mẫu tử trong thơ Hạnh Quỳnh quá đỗi chân thành, nói hộ nỗi lòng của bao người con: Mẹ tôi… có một trên đời/ Nghĩa nhân tình mẹ biển trời/ Cho con có cả một đời thênh thang (Quê hương thứ hai của mẹ); Ngày mai ai chờ ai hong con nắng/
Biển bạc đầu sóng trắng bờ vui…/ Mẹ hiền hòa trông những cháu con tôi (Xuân với biển). Nhờ có mẹ hy sinh, con mới có được cuộc đời rộng mở. Đây chính là thông điệp nhân văn sâu sắc mà tác giả gửi gắm qua mạch thơ về mẹ, một thông điệp làm sáng bừng lên tình yêu thương gia đình trong toàn bộ tập thơ.
Không chỉ yêu người, yêu gia đình, thơ Hạnh Quỳnh còn thấm đẫm tình yêu quê hương, đất nước qua những hoài niệm và cảnh sắc thiên nhiên. Điều này thể hiện gián tiếp qua nhiều bài thơ lấy bối cảnh vùng đất cụ thể: bài thì nhắc mùa hoa phượng đỏ rực miền quê (Mùa của phượng), bài lại đưa ta về miền biển xanh (Thì thầm trước biển), có bài lên tận cao nguyên đá Đồng Văn (Bên cao nguyên đá), bài khác lại lắng trong tiếng mưa Bạc Liêu và lời vọng cổ (Viếng nhạc sĩ Cao Văn Lầu)… Dù viết về nơi đâu, tác giả cũng gửi gắm tình cảm gắn bó với quê hương xứ sở. Chẳng hạn, khi về thăm một vùng đất, nhà thơ gọi đó là “Quê hương thứ hai của mẹ” cho thấy sự trân trọng cội nguồn: Phú Quốc xưa là xứ người…/… Giờ quê mẹ tái sinh. Hay khi đứng “Bên Nhà mồ Ba Chúc” – di tích bi thương trên đất An Giang, giọng thơ nghẹn ngào tưởng nhớ những đau thương của quê hương: Chiều nay mây trắng thênh thang lắm/
Có những nguyện cầu gửi xa xăm…! cũng là một biểu hiện của tình yêu đất nước sâu nặng. Tất cả tạo nên một bức tranh tình cảm đa sắc màu: từ tình yêu lứa đôi riêng tư mở rộng ra tình yêu gia đình, quê hương mang ý nghĩa lớn lao. Mạch cảm xúc thống nhất của tập thơ vì vậy chính là lòng nhân ái, yêu thương con người. Dù viết về đề tài nào, những vần thơ của Hạnh Quỳnh cuối cùng đều hướng tới việc tôn vinh tình yêu thương như giá trị cao đẹp nhất. Đây chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, kết nối các bài thơ riêng lẻ thành một chỉnh thể hài hòa về cảm xúc trong Lặng yêu.
Giọng thơ nữ thấm đượm nét dịu dàng và chân thành
Thơ Hạnh Quỳnh mang một giọng điệu nữ tính rất riêng: dịu dàng, tha thiết mà lắng sâu. Cái “nhẹ nhàng, đằm thắm” ấy thể hiện qua cách nhà thơ bộc lộ cảm xúc một cách chân thành, không khoa trương ồn ào mà lôi cuốn bằng sự tinh tế, mềm mại trong ngôn từ. Nhân vật trữ tình “em” đầy nữ tính thủ thỉ trò chuyện với “anh” bằng tất cả nỗi niềm yêu thương. Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình ấy khiến người đọc có cảm giác như đang lắng nghe lời tự sự của một người bạn tri kỷ, rất gần gũi và đồng cảm.
Trong những bài thơ về tình yêu đôi lứa, giọng thơ nữ hiện lên rõ nét qua tâm trạng đợi chờ, nhớ nhung của người phụ nữ khi yêu. Nhân vật trữ tình lặng lẽ chờ mong, với biết bao tự tình gửi vào đêm khuya và sương lạnh. Những câu thơ mang âm hưởng thủ thỉ, khắc khoải đã diễn tả thật thấm thía tâm trạng ấy:
“Lời tự tình chỉ mình em víu vá
Anh chưa về trăng khuya buồn quá” (Gửi nhớ mười hai)
Chỉ hai câu thơ mở đầu thôi đã gợi lên cả không gian và tâm trạng, nỗi nhớ ý nhị, kín đáo của nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ ấy còn được Hạnh Quỳnh ví như con thuyền chòng chành trên sóng, làm câu chữ cũng nghiêng ngả theo nhịp lòng:
“Khi nỗi nhớ cứ chòng chành nghiêng ngả
Đời mong manh quá chữ yêu thương” (Làm sao đây)
Hình ảnh “nỗi nhớ chòng chành nghiêng ngả” thật sống động, diễn tả trạng thái lòng không vững vàng vì thương nhớ. Giọng thơ thủ thỉ mà thấm buồn: cuộc đời bỗng trở nên “mong manh” bởi chữ “yêu thương” quá đỗi lớn lao. Cách xưng hô “anh – em” được lặp lại thường xuyên trong tập thơ, tạo nên một không gian đối thoại trữ tình quen thuộc của thơ tình Việt Nam. Nhưng qua giọng thơ nữ của Hạnh Quỳnh, những câu xưng hô thân thương ấy có sức ngân vang đặc biệt, vừa gần gũi đời thường, vừa giàu chất thơ. Thử lắng nghe lời “em” thủ thỉ với “anh” trong bài “Thì thầm trước biển”: “Anh à! Đời đôi lúc phong ba/ Đôi lúc hiền hòa như đất…”. Cách gọi “Anh à” vừa nhẹ nhàng vừa da diết, như một tiếng thầm thì cất lên giữa không gian biển đêm mênh mông, vừa dịu dàng cũng đầy yêu thương của nhân vật trữ tình.
Không chỉ dừng lại ở giọng thơ dịu dàng trong nhịp điệu, ngôn từ mà thơ Hạnh Quỳnh còn chân thành và giàu cảm xúc. Đọc Lặng yêu, ta có cảm giác tác giả đang trải lòng mình với những điều sâu kín nhất của trái tim người phụ nữ. Dù là niềm vui đoàn viên hay nỗi buồn chia cách, tất cả đều được thể hiện một cách tự nhiên, chân thật, không giấu giếm. Chẳng hạn, khi diễn tả nỗi khát khao yêu thương, sự chờ đợi và cả nét mong manh trong tình yêu, nhà thơ đã tự vấn bằng một câu hỏi tu từ ngay từ nhan đề bài thơ “Làm sao đây”. Có lẽ, người đọc (nhất là người phụ nữ giàu trực cảm) sẽ dễ thấu cảm trọn vẹn cảm giác trống vắng, cô đơn thẳm sâu trong những câu thơ: “Mắt môi hờ cháy khát/ Tự mình ta hát/ À ơi… dạ khúc chờ nhau/ Canh trường nhả nhịp buông lơi”. Tiếng “à ơi” ngân lên như một lời ru, khơi gợi liên tưởng đến khúc hát tình tự của người phụ nữ: vừa ngọt ngào, vừa thấm đẫm buồn thương. Bởi thế, giọng thơ trở nên giàu nhạc tính, như một lời thở than khe khẽ mà dai dẳng ám ảnh.
Có thể nói, sự nữ tính trong giọng điệu đã mang đến cho thơ Hạnh Quỳnh một sức mạnh cảm xúc riêng, sức mạnh của sự chân thành và đồng cảm. Người đọc dễ dàng tìm thấy mình trong những vần thơ thủ thỉ tâm tình này. Giọng thơ như lời tri kỷ vỗ về, sẻ chia mọi buồn vui trong cõi “yêu thương thầm lặng”. Bên cạnh đó, tập thơ còn nổi bật ở hình ảnh gần gũi mang đậm tính tượng trưng, hình ảnh giàu sức gợi và nhịp điệu thơ uyển chuyển, hài hòa với cảm xúc, giọng thơ tâm tình, nữ tính. Nhờ đó, mỗi bài thơ tuy ngắn gọn nhưng đều để lại dư âm, tạo ấn tượng sâu lắng trong lòng độc giả.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng giá, Lặng yêu vẫn còn một số bài thơ sử dụng hình ảnh khá quen thuộc, chưa thật sự độc đáo mới lạ. Ví dụ như hình ảnh “cơm áo gạo tiền”, “bão giông”, “phôi pha”… vốn là những cụm từ thường gặp trong thơ ca trước nay. Những hình ảnh và từ ngữ này tuy gần gũi với độc giả nhưng phần nào làm giảm sự bất ngờ, mới mẻ trong cảm xúc thơ. Chẳng hạn, câu thơ “Câu yêu thương trở thành mệt lả/ Nước mắt ngược dòng… lặng câm…!” (Làm sao đây) diễn tả nỗi đau khá trực diện, dễ hiểu nhưng chưa tạo được nhiều ấn tượng mới do cách nói còn thiên về lối mòn biểu đạt quen thuộc. Tương tự, một vài bài thơ mang tính khái quát triết lý rõ nét như “Thời gian” lại hơi thiên về kể lể liệt kê (những dấu vết thời gian trên mái tóc, đôi tay…), chưa có điểm nhấn hình ảnh đắt giá. Dù vậy, cần nhấn mạnh rằng những “hạt sạn nhỏ” này không làm lu mờ giá trị chung của tập thơ, mà chỉ là sự chưa thật sự bứt phá về ngôn ngữ, hình ảnh. Mặt khác, chính việc sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc đôi khi lại tạo hiệu ứng gần gũi, bình dị cho tập thơ. Điều này có thể xem như dụng ý của tác giả khi muốn thơ mình đến với đông đảo bạn đọc một cách tự nhiên nhất.
Trong bối cảnh thơ hiện đại đôi khi chạy theo cái mới lạ và phá cách, Lặng yêu của Hạnh Quỳnh mang một nét riêng đáng quý: sự bình dị, nhân hậu và lãng mạn rất đỗi đời thường, chân thành. Tập thơ là tiếng nói của một trái tim phụ nữ nhạy cảm, giàu yêu thương và cũng đầy nghị lực. Lặng yêu tuy lặng lẽ mà không hề nhạt nhòa, bởi dư âm yêu thương của tập thơ chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi trong lòng người đọc tri âm.
