CHÙM THƠ “KHÚC HÁT NGƯỜI THỦY THỦ”

Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của cù lao Ông Hổ, người thợ Ba Son kiên cường, người chiến sĩ cộng sản mẫu mực. Qua những vần thơ giản dị, mộc mạc, hình ảnh Bác Tôn hiện lên vừa bình dị, hiền hậu, vừa uy nghi, khí phách. Đó là dáng đứng của người thủy thủ ngẩng cao giữa bão tố, là bóng hình áo vải trở về bến Ô Môi trong tình thương của quê hương, là tượng đài bất tử trong lòng Nhân dân. Văn nghệ An Giang trân trọng giới thiệu chùm thơ “Khúc hát người thủy thủ” như một lời tri ân thành kính, để cùng nhau nhớ về Bác Tôn với niềm tự hào, yêu thương và trách nhiệm tiếp bước…

BAN BIÊN TẬP


Nguyễn Lập Em

BẾN Ô MÔI

 

Không lẫn vào đâu

Màu bông ô môi đỏ

Bến sông xưa Người đã trở về*

 

Ngan ngát hương quê

Hoa cau bên hè rụng trắng

Xào sạc bụi tre gìa mấy lượt trổ bông

Con nước vẫn lớn ròng

Phù sa sông Hậu vẫn ngọt ngào bờ bãi

Bao năm trôi, Người đi xa ngái

Ngày trở về, tất cả vẫn thân quen

 

Mái nhà tuổi thơ của Người vẫn thân quen

Dấu cũ còn đây, nơi bàn tay cha mẹ đã từng vun đấp

Bờ rào, nọc trâu, gốc xoài, cây mít

Trái vẫn đong đưa cội vú sữa già…

 

Và… đằng kia rạch Rích, nơi Người đã băng qua

 

Đi giáp vòng Cù lao ông Hổ

Để hơn chín mươi năm, còn hoài nỗi nhớ

Hơn chín mươi năm, giáp một vòng đời

Người vẫn giữ vẹn nghĩa tình

Quê xưa mãi trong tim

 

Bến Ô Môi, Người trở về tìm

Như bao người con xa quê

Nhớ một bên sông

Thương một màu bông đỏ thắm

Và ai biết, trong thẳm sâu thầm lặng

Giọt nước mắt nào Người khóc bởi xa quê

Giọt nước mất nào mừng tủi lúc trở về

 

Bến Ô Môi vấn là bến quê

Hàng ô môi xưa còn dăm ba cội

Vẫn màu bông đỏ thắm

Bến sông xưa vẫn đợi.

Người về.

 

* Bến Ô Môi, nơi Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng qua đò, trở về thăm quê nhà ở cù lao Ông Hổ – Mỹ Hòa Hưng vào năm 1946 và năm 1975, sau thời gian dài xa xử để hoạt động cách mạng.

 


 

Trung Thành

TƯỢNG ĐÀI LÀM BẰNG GÌ?

 

Con gái hỏi

Tượng đài làm bằng gì?

Thật lòng tôi không biết

Chỉ nói được với con

Do đâu mà dựng tượng

 

Ngày xưa

Lâu rồi, nghe nội kể

Quê hương mình, oằn oại gót thực dân

Cờ hồng tới, cho dân gặp Đảng

Ta dựng nên: “Cột dây thép” oai hùng*

Giữa Long Xuyên, giữa lòng phố trẻ

Dựng tượng Bác Tôn, tượng một người hiền

Là tượng người con, đất cù lao sóng vỗ

Tượng người chiến sĩ, Hắc Hải vang danh!

Mộc mạc lúa vàng, đơn sơ con cá**

Cũng thành tượng, vì giúp dân bao thuở

Vượt đói nghèo, vươn tới ấm no

Tượng là tấm lòng

Chất liệu bởi chiến công

Chất liệu là mồ hôi, xương máu

Giọt lệ, nụ cười…

Dựng thành tượng đẹp, thiêng!

 

Hơn tất cả

Trong lòng dân Việt

Tượng đài Tổ quốc

Ba miền thống nhất

Lộng hình Bác Hồ

Mãi uy nghi!

 

* Cột dây thép: Tháng 3.1930 chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập tại xã Long Điền, huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang (cũ). Chào mừng sự kiện này, chi bộ đã tổ chức treo cờ Đảng trên cột dây thép ở ấp Long Thuận.

**Tượng cá Ba sa ở Phường Châu Đốc. Tượng Bông lúa ở Phường Long Xuyên.


 

Ngô Khắc Tài

KHÚC HÁT NGƯỜI THỦY THỦ

Còn bay nữa và còn bay nữa
Lá cờ của người thủy thủ năm xưa
Dù người đã bình yên giấc ngủ
Cờ vẫn bay mãi tới tương lai

Cho tôi hát lên đây khúc ca
Người đã hát một lần trên sóng
Nào những ai buông xuôi số phận
Bước đi thôi… biển lớn gọi rồi

Hãy bước đi – chớ lặp lại đời
Dễ chán ngắt khi nhiều gương mặt
Đồng hóa hư vô, cúi đầu góp nhặt
Quên xung quanh làm làng mạc điêu tàn

Không phải mơ giữa bạn – với thù
Dù lênh đênh giữa bốn bể trời nước
Chiến hạm giặc hướng vào đâu cũng rót
Độ buồn đau cùng chung chịu nỗi đau

Cờ bay cao, cờ bay lên cao
Điều không thể để trở thành có được
Lòng yêu người, cùng tình yêu đất nước
Dù tù đày chân vẫn bước nhẹ tênh

Ôi, cái sâu thẳm thiêng liêng!
Cuộc đời cũ đổi thành đời khác
Người thủy thủ cất cao tiếng hát
Khí phách ra đi – rồi để trở về

Về với quê hương – về giữa mọi người
Người đã sống một cuộc đời bình dị
Tôn Đức Thắng, Bác làm nên lịch sử
Cùng với con tàu như truyền thuyết gửi đại dương

Theo nhau, khúc hát lên đường…

 


 

Trần Huỳnh

TRÊN BẾN Ô MÔI

 

Người về trên bến Ô Môi”
tháng Tám thương nhớ lặng trôi theo dòng
sông Hậu nghiêng bóng trời trong
Bác về nghe sóng bềnh bồng phù sa

Chiều buông sắc tím ô môi
thương người áo vải một đời giản đơn
bình minh từ thuở Ba Son
đường xa mấy nẻo, lòng còn thẳng ngay

Cù lao xanh ngát vườn cây
tiếng chim như thể vẫn đầy niềm thương
Người đi bát ngát quê hương
Người về chân chất vấn vương nghĩa tình

Nụ cười hiền hậu lung linh
giữa mùa hoa nở bóng hình Bác Tôn
ô môi thơm ngọt tâm hồn
như Người sống giữa lòng dân trọn đời

Thời gian qua những nổi trôi
bến xưa còn đợi bóng Người hôm nao
dẫu Người đi giữa trời cao
hương ô môi mãi ngọt ngào tháng năm…

 


 

La Lam

Lan ma với Mỹ Hoà Hưng

 

Nằm giữa dòng Hậu giang,

ngày đêm nghe tiếng nước.

Những lớp người đi trước,

những lớp người đi sau

như phù sa bồi đắp.

Để màu xanh

trải khắp Mỹ Hòa Hưng.

 

Cây dâng trái,

người dâng tim

góp cho đời những thảo thơm, ngon ngọt.

Biết rằng:

Sóng trước hay sóng sau

cũng đều tan thành bọt,

nhưng sóng vẫn rì rào.

 

Ta nghe trong im lặng,

có nhịp bước

người đến sau.

Khi một mùa lá rụng,

là chồi xanh tuôn trào.

 


Tranh: Tĩnh vật | Nguyễn Văn Lý