Màu xanh tầm vông trên vùng đất Ba Chúc

Cơn đầu mùa đổ ào xuống bất chợt giữa cái nắng hanh khô xứ núi được ví như “cơn mưa vàng”. Nhiều tháng qua, Bảy Núi đang đỉnh mùa khô hạn. Tiết trời oi bức, khô khan làm cho cây cối, con người nơi đây cằn cỏi, ủ rũ. Cơn mưa như gột rửa hết mọi “nóng nực” của cây cối và con người.

Còn khoảng 2 km nữa là tới điểm hẹn nhưng mưa như trút nước, tù mù sấm chớp, đường che phủ bởi cây cối,… khiến tôi phải dừng lại “trú mưa” bên cái chòi ven đường. Ông vội vàng mở cửa: “Chú cứ vào đây, tạnh mưa hả đi”. Nghĩ đường không còn xa nên tôi “thừa hành” theo lời mời nhiệt thành của chủ nhà. Nhờ cơ duyên trú mưa giúp tôi hiểu được nhiều điều về vùng đất Ba Chúc với tên gọi dân gian xứ “đống xương” đã trải qua với bao biến động của đất và người nơi đây.

Cái tên “vùng đất đống xương” thì ai cũng biết nơi đây có Nhà mồ Ba Chúc là biểu tượng lên án tội ác trong thời điểm lịch sử. Đây là nơi lưu giữ 3.157 hài cốt người dân vô tội ở hai xã Ba Chúc và Lương Phi bị bọn Pôn Pốt giết hại trong chiến tranh biên giới Tây Nam từ đêm 18/4 – 30/4/1978.

Nhưng, Nhà mồ chỉ là một điểm của cái tên định danh lịch sử. Đối với người dân Ba Chúc, nhất là “nhân chứng lịch sử” như ông Ba, “vùng đất đống xương” khởi nguồn từ một nỗi đau tràn lan sau ngày người dân Ba Chúc, Lương Phi bị địch thảm sát. Ông kể: sau cuộc tàn sát, địch bị lực lượng ta đánh bật về bên kia biên giới. Sau cuộc li tán đau thương, nhiều người trở lại tìm kiếm ông bà, cha mẹ, con cái, người thân thì chẳng thấy đâu. Chỉ chứng kiến một cảnh tượng hãi hùng đập vào mắt với tột cùng nỗi đau. Đó là hàng đống xương người, xác người bị phân hủy chất chồng lên nhau trên cánh đồng, trên đường, hang đá, gốc cây,… khắp làng Ba Chúc, Lương Phi, Vĩnh Gia,… Không còn ai biết mặt ông bà, cha mẹ, con cháu, người thân của mình; chỉ thấy xác người và xác người; mùi hôi thối phựt lên, u ám. Vượt qua nỗi đau, người sống ngậm ngùi nhặt từng di cốt đem về bảo quản và đặt vào Nhà mồ để thờ chung một ngôi thờ tập thể đến hôm nay. Vì vậy, khi nói đến Ba Chúc, ai cũng nghĩ đến “đống xương” nơi Nhà mồ được quy tập từ những “đống xương vô định sương phao trắng” trên cánh đồng, bìa rừng, hang đá, gốc cây,… Tên gọi lịch sử định danh vùng đất này như một vết cắt sâu vào máu thịt người dân Ba Chúc, Lương Phi, Vĩnh Gia,… nói riêng, Việt Nam nói chung trong những đêm điên cuồng, khát máu của kẻ thù. Nhưng rồi, không phải con người xứ núi rừng này mãi ngồi “bóc lớp” vết thương, ngược lại, họ “gồng lên sống dậy” trong đốm lửa tàn “xương trắng” để phát triển như ngày hôm nay.

Bên ly trà nhìn “cơn mưa vàng” trong căn nhà cấp 4 khang trang, các câu hỏi của tôi về tên đất, về tầm vông như kéo ông Ba trở về hồi ức vùng đất này vài mươi năm trước. Đủ thứ chuyện vui, buồn, có cả niềm tự hào về căn “biệt thự” mới toanh với vài công đất trồng tầm vông “đẻ ra tiền” nuôi sống cả gia đình. Theo ông Ba, để có rừng tầm vông như hôm nay, sống được với cây tầm vông, người dân xứ này đã phải trải qua bao đoạn trường cơ cực.

Ông được xem là người cố cựu ở làng Ba Chúc, nay đã “thất thập cổ lai hy”, nhưng cái chất “già lõi xứ núi” vẫn còn rắn chắc. Đời ông nội ông vào đây khai hoang lập làng từ trăm năm trước theo thế hệ tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Qua bao đời sinh sống, đất Ba Chúc trở thành “đất mồ mả tổ tiên, ông bà”. Thời Pháp và Mỹ, nơi đây biết bao khó khăn, thiếu thốn, người dân Ba Chúc vẫn bám đất, bám làng sinh sống. Rồi đến ngày giải phóng ai cũng mừng vì được tự do, sẽ tái dựng lại quê hương. Viễn cảnh vùng kinh tế mới, đời sống sung túc cùng bao dự định phát triển trong đầu. Đùng một cái, chiến tranh biên giới nổ ra. Nỗi đau trên vùng đất vết thương chiến tranh hôm qua chưa lành thì vết thương mới lại sâu thêm, cứa vào da thịt nhiều con người hơn. Câu hỏi về “vùng đất đống xương” của tôi như chạm vào tận cùng vết thương của ông vốn dĩ đã lành. Có lẽ thế nên ông Ba gạt bỏ câu chuyện “khởi nghiệp” từ cây tầm vông mà hồi khởi về một “vết thương lớn” ở Ba Chúc, Lương Phi, Vĩnh Gia trong cái đêm “giọt máu người dân đã nhuộm thâm cây cỏ” do sự tàn ác của địch.

Trong đêm 18/4/1978, địch bất ngờ tràn qua biên giới. Vùng Ba Chúc – Lương Phi (núi Tượng), Vĩnh Gia,… trở thành trọng điểm đột kích của địch. Không kịp di tản, bà con làng Ba Chúc bị địch ra tay sát hại bằng tận cùng của sự dã man. Trong những ngày chiếm đóng, chúng giết cả ngàn người dân Ba Chúc – Lương Phi; già, trẻ, trai, gái đều chết tức tưởi. Gia đình ông Ba cũng có người nằm xuống trên “đống xương”. Trong cái đêm kinh hoàng đó ông cũng suýt chết. Vài ngày trước ông đi thăm một người bà con ở xa chưa kịp về. Khi về thì mọi thứ trong ý nghĩ của ông lúc này là nỗi đau xiết dạ về người cha, người mẹ và bà con hàng xóm nằm “chồng thây lên nhau” trên cánh đồng…

Tình hình tạm yên, ông quyết tâm ở lại nơi đây giữ những vết máu, giữ mảnh xương còn sót lại của gia đình, làng xóm. Một mối thù thiên cổ không thể phai mờ.

Làng xóm tiêu điều. Cảnh sống rùng rợn ám ảnh cuộc đời ông. Lần hồi, bà con di tản trước đó trở về quê nhà gầy dựng lại cuộc sống. Ông kể: Hồi ấy, những năm 1979, tình hình ở Ba Chúc, Lương Phi và nhiều nơi khác trong vùng Bảy Núi vẫn chưa yên ổn. Tiếng súng vẫn còn. Bọn Pôn Pốt lăm le đánh chiếm trở lại. Ngày về sinh sống, bà con vùng này vô cùng lo sợ; vừa sợ địch tàn sát lần nữa, vừa sợ không khí u ám giữa mênh mông rừng núi sau cái chết đau thương của hàng nghìn người. Rồi họ vẫn cố trụ lại vì mồ mả ông bà, vì tấc đất quê hương. Hàng ngày, ông và những người “hồi hương” vừa làm để sống, vừa dọn dẹp biết bao nhiêu thứ, nào xương, nào da thịt, nào đổ nát,… trong cảnh tối tăm, thiếu thốn, khó khăn, đói khát và chết. Với bao nhiêu hy sinh, vất vả và sức mạnh của sự đoàn kết, niềm tin vào Đảng – Nhà nước, cuộc sống người dân Ba Chúc, Lương Phi dần hồi khởi sắc trong đống hoang tàn.

Ngày đó, ở đây ai cũng sợ, cuộc sống khó khăn vô cùng: không điện, không đường, không nước sạch. Giếng nước phải đào mới lại. Vì phần lớn các giếng cũ hay ao, hồ đã bị địch “liệng xác” bà con xuống trong cuộc thảm sát nên không dùng được. Cuộc sống về chiều tối tăm lắm, đèn dầu leo lét. Ai cũng ngán ngại khi ra đường. Dù vậy, nhà cửa, làng xóm lần hồi được tái dựng lại. Nhiều vườn, ruộng, rẫy trên cánh đồng ngày càng xanh, như cố khuất lấp những vết máu để sống vì người sống, sống vì người chết và quê hương. Nghị lực của con người tái thiết quê hương, cùng với những chính sách ưu tiên phát triển vùng khó khăn của Đảng – Nhà nước dành cho vùng Bảy Núi, trong đó, Ba Chúc, Lương Phi trở thành nơi trọng điểm, do vậy, điều kiện vật chất phục vụ sản xuất được thuận lợi hơn nên cuộc sống người dân bám đất, giữ làng được ổn định. Bà con di tản trở về thêm đông đúc, cùng nắm lấy tay nhau vượt qua mọi khó khăn, dần hồi vùng đất này được phát triển như ngày nay. Thấm thoát người dân cũng xoa dịu được nỗi đau tột cùng từ sự tàn ác của giặc.

Trên tinh thần vực dậy cuộc sống cho người dân vùng Bảy Núi nói chung, địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nói riêng, những năm 2000, Đảng bộ tỉnh An Giang đầu tư xây dựng thêm cơ sở hạ tầng cho hai xã Ba Chúc, Lương Phi, Vĩnh Gia,…. Nhờ vậy, con đường huyện lộ từ trung tâm huyện Tri Tôn về Ba Chúc, Lương Phi và từ Ba Chúc, Lương Phi đi các xã lân cận được được hoàn thành. Con đường huyết mạch này như sức sống mới cho vùng đất “đống xương” mà người dân trông đợi từ những ngày đầu trở về bám đất giữ làng, giữ “xương máu” của hơn ba nghìn người ngã xuống để khẳng định về sự sống và lên án tội ác của địch.

Theo ông Ba, từ khi có đường, rồi không lâu sau đó điện cũng kéo về. Bao nhiêu niềm vui và sức sống mới ở Ba Chúc và Lương Phi “sáng lên” trông thấy. Màu xanh của rừng tầm vông hôm nay cũng được khởi sinh từ đó. Khi có điện, đường, việc sản xuất của người dân Ba Chúc ngày càng thuận lợi. Ông cho biết: khi mới về đây, bà con chẳng biết trồng cây gì để sống. Làm ruộng thì thất bát, trồng cây ăn trái thì “để dành ăn”… Nói chung, cuộc sống người dân đến những năm 2000 vẫn còn nghèo lắm. Do vậy, việc chuyển đổi cây trồng để “thoát nghèo” là điều cần thiết nhất trong ý thức của mỗi người. Trồng cây tầm vông này cũng vô tình lắm. Những năm 2000, có rất nhiều người “miệt dưới” lên núi mua tầm vông về cất nhà, sửa nhà và làm nhiều việc khác. Mua rất nhiều. Bấy giờ tầm vông chủ yếu là “tự nhiên”, nên không đủ cung cấp cho người mua. Nhiều gia đình ở đây bắt đầu có ý định bứng tầm vông mọc tự nhiên về trồng để bán. Gia đình ông cũng vậy. Thế là việc trồng tầm vông nở rộ. Với nhu cầu sử dụng cao, nên cây tầm vông trở thành nguồn sống chủ yếu cho người dân Ba Chúc và một số nơi ở Bảy Núi. Rất nhiều gia đình thoát nghèo, phất giàu nhờ tầm vông.

Hiện nay, cây tầm vông vẫn giữ giá trị kinh tế cao cho người trồng. Theo ông Ba, mỗi mùa vụ, ba công đất tầm vông của ông cho thu hoạch hàng nghìn cây. Thu nhập cả trăm triệu đồng. Tầm vông được bán khắp nơi ở Đồng bằng sông Cửu Long, có khi xuất sang Campuchia. Trồng trái gì, cây gì có thể xuống giá, trúng mùa rớt giá, nhưng cây tầm vông thì vẫn ổn định trong mọi thời kỳ thu hoạch.

Qua lời kể ông Ba, cũng như những hàng tầm vông trước nhà xanh thẳm, mướt rượt, thẳng tắp, dẻo dai theo những cơn gió giông, mới thấy được sức mạnh kinh tế của cây tầm vông đã nuôi lấy đất, nuôi lấy con người Ba Chúc, Lương Phi từ một vùng đất hoang tàn, xơ xác sau chiến tranh, giờ được vươn dậy màu xanh bạt ngàn tầm vông.

Cơn mưa dần tạnh, hơi nước theo làn mưa vẫn phủ mờ trên tán cây. Phía ngoài có vài người đánh xe bò chở đống tầm vông bên vệ đường về nhà chuẩn bị cho một chuyến “lên xe”.

Mưa tạnh, tôi từ giã ông Ba, hành trình đến điểm hẹn “Nhà mồ Ba Chúc”. Ven đường, rừng tầm vông oằn cong xiêu dẹo vì mưa giông gió giật, nhưng nó vẫn không gãy gục mà cứ bật dậy từ từ thẳng đứng. Màu xanh biếc của rừng tầm vông, cây ăn trái cùng với hơi nước mưa đầu mùa mát rượi. Hai bên đường, nhiều ngôi nhà khang trang, kiểu dáng rất đẹp, với vườn hoa kiểng, hàng rào cây xanh thẳng tắp; vài học sinh bắt đầu cho buổi học chiều trên đường đến trường; nhiều xe tải đậu bên cạnh bìa rừng chờ người chất tầm vông lên xe… Bao nhiêu cảnh vật, con người trên đường khiến ai cũng thấy đời sống sung túc, yên bình đến lạ ở vùng đất xa xôi của Bảy Núi, mà mới không lâu, thế hệ chúng tôi còn biết rất rõ đau thương, mất mát đến tận cùng giữa sự sống và cái chết, đến mức người ta đem nỗi đau ấy “định danh” cho xứ này bằng tên “đầy nỗi sợ hãi”– “vùng đất đống xương”.

Điện thoại reo, bạn tôi đang chờ tại Nhà mồ Ba Chúc, nơi tập thể những con người đã nằm xuống chồng lên nhau, cho máu xương hòa vào sức mạnh của đất, cho cây tầm vông và con người lớn lên giữa bao khó khăn thiếu thốn.

Thắp nén nhang, tôi có cảm giác rùng rợn trước số phận con người trước cái chết hôm qua, mà dường như, cảnh huống đày đọa, hành hình chỉ có giả tưởng ở địa ngục. Thế mà bọn Pôn Pốt lại nhẫn tâm áp dụng đối với con người. Không nhắc lại cái chết, hàng ngàn bộ hài cốt vô danh ở Nhà mồ này “sừng sững” gần 50 năm qua đã quá đủ cho sự chiêm nghiệm, giải thích nỗi đau.

Có lẽ “thấm” được điều đó, nên khi gặp nhau, anh bạn tôi – một giáo viên lịch sử không giảng về lịch sử cuộc tàn sát. Bởi đến Nhà mồ này, ai cũng hiểu quá rõ ràng về bi thảm của lịch sử. Anh chỉ nói về sức sống của chính anh, của những đứa học trò và bà con nơi anh sống. Anh bảo: từ khi ra trường về định cư ở Ba Chúc, hơn mười lăm năm nay, anh cảm nhận được sự thay đổi không ngừng của đất và người nơi đây. “Khi mới ra trường được phân công về Ba Chúc dạy cấp 2 thấy cũng “nản”. Bao nhiêu bạn bè khuyên “đừng về”, vì xứ đó còn khó khăn lắm. Trường học còn ọp ẹp; không điện, tắm nước giếng, ban đêm buồn “não nuột”… Và nhiều viễn cảnh cái khổ được “lật ra” như từng trang sách. Thế rồi mình quyết tâm về đây lập nghiệp như một sự trải nghiệm. Cũng khổ cực một thời gian ngắn thôi. Trường cấp 2 mình dạy được xây dựng khang trang liền sau đó một năm. Nhà tập thể cho giáo viên ở sạch sẽ; điện nước đầy đủ; đời sống giáo viên ở Ba Chúc nhận được rất nhiều ưu đãi từ các chính sách của Tỉnh và Chính phủ. Giờ nhớ lại mình về đây nhận nhiệm sở là một quyết định sáng suốt. Học sinh ở vùng này thấy vậy chứ ngoan, dù các em ở nông thôn nhưng luôn đi học đàng hoàng. Thầy, cô ít khi phải lặn lội đi vận động học sinh bỏ học. Vì ở đây, các con đường đến trường đều được trải bê-tông, tráng nhựa bằng phẳng. Buổi sáng hay chiều, mỗi giờ đến trường của học sinh nhìn rất đẹp: Áo trắng hàng dài với xe đạp lăn bánh trên con đường thẳng tắp, được che phủ mát rượi bởi tầm vông, cây ăn trái trông rất yên bình và thơ mộng làm sao” – Lời “giảng văn” ngoài đời về đất và người Ba Chúc bằng chất giọng tự hào của bạn tôi chứng minh được sức vươn dậy ở nơi mà con người đã, đang gồng mình đứng dậy cho một quá khứ không bị phai mờ, và cái chết của người nằm xuống không bao giờ vô nghĩa.

Theo anh bạn tôi, dù cuộc sống đầy đủ, thời gian có đằng đẵng trôi như thế nào thì con người Ba Chúc vẫn không sao quên được mất mát đau thương. Nỗi nhớ ấy không là “khơi gợi hận thù lịch sử”, mà sự tưởng nhớ cái chết đó góp phần lên án những tội ác, để cho cái ác không còn xảy ra, và đó là tuyên ngôn cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Ngày nay, hàng năm, bà con làng Ba Chúc đã làm lễ giỗ tập thể cho 3.157 hài cốt người dân vô tội trong cuộc thảm sát Ba Chúc mà bọn Pôn Pốt gây ra. Lễ cúng giỗ rất chu đáo, phẩm vật cúng được làm từ sản vật của quê hương xứ sở, nhành hoa,… dâng lên người đã khuất – quê hương máu thịt mà chính họ đã nằm xuống.

Đối diện Nhà mồ là ngôi chùa Phi Lai – nơi mà ngày xưa, bọn Pôn Pốt chỉ cần ném vài trái lựu đạn vào thì đã giết hại cả trăm người đang trú ẩn nơi đây. Bọn chúng dí quanh con người như “chuột chun rọ” không có sức phản kháng đang cầu tồn sinh nơi cửa Phật, Thần. Vết máu loang đầy trên vách tường mà trước khi chết, người dân đã “vịn vào” “đỡ thân mình, dựa mình” lần cuối cầu một mầm sống, nhưng thất vọng – nay đã mờ đi với thời gian. Nhưng vách tường vẫn còn thấy rõ một màu loang loáng đỏ nhòa trên vách. Người ta niệm thức niềm tin rằng: nơi vết máu ấy, dù đã bao lần con người muốn “lấp” đi để không còn thấy nỗi đau và sự rùng rợn, nhưng vẫn không “lấp” được. Tô vôi lên vài ngày thì vết máu vẫn hiện ra hằn lên vết vôi, xi măng. Đến ngày nay vẫn thế. Người ta đành để đó như dấu tích tội ác bất chấp Trời, Phật, Thần,… của bọn Pôn Pốt máu lạnh; để người sau mãi nhớ đến dòng máu lịch sử để cái ác không tồn tại.

Lên xe, anh bạn chở tôi một vòng quanh các ngã đường Ba Chúc. Quả thực sức sống ở vùng đất này mãnh liệt hơn những gì tôi nghe về cây tầm vông, về ngôi trường, con đường, nhà công vụ,… Từng con đường về các ấp nối liền nhau được trải nhựa, bê tông bằng phẳng, đẹp tĩnh lặng. Các ngôi thờ tự của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được xây dựng khang trang, kiến trúc độc đáo nằm ẩn khuất dưới tàn cây cổ thụ cổ kính, dưới rừng tầm vông xanh mướt; nhà cửa người dân hai bên đường san sát nhau; ruộng rẫy xanh rờn vào mùa thu hoạch; thỉnh thoảng trên đường lộ xã, vài con bò long nhong thả rong đang ngoạm cỏ; vài chiếc xe bò chở tầm vông, trái cây,… về nơi đang chờ mối bán,… Cuộc sống yên bình đến kỳ lạ. Anh bạn tôi bảo: “Sống ở đây giờ sướng lắm. Nếu lúc trước mình không về đây thì giờ đây làm gì có căn biệt thự mini đẹp thế này”. Tôi nói: So với nhiều bạn bè khác phiêu giạt “tứ tán” từ ngày ra trường, bạn có lẽ là người có cơ ngơi ngon nhất. Cũng phải thôi, cuộc sống là một ván đánh cược, cũng như con người vùng đất này “đánh cược” với bao nhiêu thứ, cả cái chết rình rập trong thời kỳ hậu chiến tranh biên giới và nỗi đau, cảnh tượng làng mạc điêu tàn ám ảnh họ. Nhưng rồi con người vẫn sống, vẫn bám chặt vào quê hương để mong có ngày “sống dậy”. Kết quả hôm nay của bạn tôi và người dân Ba Chúc chứng tỏ sự “đánh cược” số phận và niềm tin vào cuộc sống ngày mai ở vùng đất được mệnh danh là “đống xương”.

Trở lại Nhà mồ Ba Chúc, tôi thắp nén nhang lần cuối để giã từ các hương hồn. Trời chiều rừng núi mau tối. Mới đấy đã sầm lại. Cảm giác “rùng mình” trước hàng ngàn hài cốt đang nằm yên trong tòa tháp hình hoa sen. Chợt nghĩ, những hương hồn là biểu tượng của lịch sử vùng đất. Khói nhang thời chiều trên bàn thờ tập thể nơi Nhà mồ được đốt sáng đỏ rực. Phía chùa Phi Lai, chùa Tam Bửu đối diện, những tiếng chuông mõ của tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng đã vang lên theo từng nhịp đọc kinh. Bài kinh, lời nguyện, chung, cổ thanh vang như tiếng lòng của con người về sự bao dung, gọi hồn an lạc… ở vùng đất mà họ đã sống, đã ngã xuống. Tôi sực nhớ! Những con người nằm xuống nơi đây – trong Nhà mồ này phần lớn là tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa…!

Chiều xuống nhanh, rừng tầm vông che trời thêm khuất tối. Xe vù vù trên đường chiều núi Tượng yên tĩnh như ru. Hai bên đường, nhà nhà đèn điện bật lên sáng rực. Thoảng thoảng vài giọng karaoke thoát ra như đệm thêm khúc nhạc cho rừng núi… Cảm thấy một sức sống diệu kỳ bật dậy ở vùng đất “đống xương”.

Xe vèo ra khỏi Ba Chúc, núi Tượng như một khối đêm lù lù trên bầu trời; rừng tầm vông khuất mờ ngút ngàn phía sau lưng, gió cứ rung rẩy quật quơ ngọn tầm vông theo chiều xoay giần giũ. Nhưng rồi nó cứ bật thẳng đứng, tô thắm màu xanh phủ khuất “đống xương khô”, vết máu thuở nào nằm hoang hoải trên đồng…!

Nguyễn Trung Hiếu