NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƯỜI HOA Ở CHÂU ĐỐC

Từ nhiều thế kỷ qua, cộng đồng Hoa đã sinh sống đông đảo ở thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang), do đó văn hóa tộc người Hoa trở thành một bộ phận trong hệ thống văn hóa địa phương. Một trong những khía cạnh nổi bật ở văn hóa tộc người Hoa là các nghi lễ vòng đời. Đó là những nghi lễ diễn ra theo vòng đời của mỗi cá nhân, gắn liền với những cột mốc quan trọng trong sự phát triển của người ấy (sanh đẻ, trưởng thành, hôn nhân, qua đời…) và thường chỉ diễn ra một lần trong đời.

Do phát xuất từ những nhóm phương ngữ khác nhau, văn hóa tộc người Hoa ở Nam Bộ nói chung và Châu Đốc nói riêng rất đa dạng. Trong nghi lễ vòng đời, bên cạnh những nét chung, mỗi cộng đồng còn có nhiều đặc điểm riêng biệt. Đối với vùng đất Châu Đốc, người Triều Châu chiếm số lượng đông đảo hơn cả, do vậy các tập tục mà tác giả thu thập và trình bày đa phần là tập tục trong văn hóa Triều Châu. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chia sẻ một số tập tục của các cộng đồng còn lại.

1. Sanh đẻ

Người Hoa có nhiều giai thoại liên quan đến nhiều vị thần bảo trợ cho việc sanh đẻ, do vậy niềm tin và thực hành tín ngưỡng trong dân gian khá đa dạng, tùy theo từng nhóm phương ngữ hoặc hộ gia đình. Những vị thần thường được cầu khấn để phò hộ cho mẹ tròn con vuông gồm Nữ Oa, Kim Hoa, Thiên Hậu, Cao Môi… Ngoài niềm tin vào thần linh, người Hoa vùng Châu Đốc còn thực hiện nhiều tập tục kiêng cử tại nhà, với mong mỏi người mẹ và đứa con gặp được những điều tốt lành. Ngày nay, các tập tục quan trọng vẫn được duy trì, các tập tục nhỏ nhặt đã được giản lược.

Đứa bé ra đời đồng nghĩa gia đình có thêm thành viên mới. Vì thế, điều đầu tiên cần làm là ông bà của đứa trẻ đến thắp hương trước bàn thờ gia tiên, như để “báo cáo” tin vui, đồng thời tạ ơn tổ tiên đã phò hộ. Sau đó, họ tiếp tục thông báo tin mừng nầy đến họ hàng nội ngoại và láng giềng. Khi mẹ và bé từ bệnh viện về nhà, gia đình đặt sẵn một chậu than hồng trước cửa rồi ẵm em bé đi qua, với ý nghĩa tránh tà khí ám theo vào nhà. Sau khi đứa bé vào nhà, gia đình thường treo bùa trước cửa phòng ngủ, đeo bùa vào cổ hoặc tay của nó, nhằm đề phòng tà ma ám hại.

Tròn một tháng từ ngày sanh đứa bé, gia đình làm lễ mãn nguyệt (tròn tháng), gọi theo người Việt là lễ đầy tháng. Nghi lễ nầy về ý nghĩa tâm linh là sự tạ ơn thần thánh và gia tiên đã bảo hộ đứa trẻ ra đời an toàn, về ý nghĩa thế tục là sự thông báo rộng rãi cho họ hàng biết đến thành viên mới trong dòng tộc. Bên cạnh tổ tiên, những đối tượng tín ngưỡng chính được hướng đến trong lễ đầy tháng là Bà Mụ, Mẹ Sanh, Mẹ Độ…

Đứa trẻ tròn một tuổi, gia đình làm lễ mãn niên (tròn năm) mà người Việt gọi là lễ thôi nôi. Trong ngày nầy, người Hoa cúng các món ăn như xôi, chè, heo quay, gà luộc, trái cây… Điều thú vị được nhiều người chờ đợi là nghi thức thí nghệ (thử nghề). Gia đình đặt sẵn nhiều thứ vào chiếc mâm, đứa bé đến chọn món mà mình thích, người lớn xem đó là dự báo về nghề nghiệp trong tương lai của nó. Những thứ thường được đặt trên mâm là cục đất (nông nghiệp), cây viết (các nghề chữ nghĩa), cây lược (làm đẹp), kim chỉ (nghề may), cục xôi (nghề ẩm thực), máy tính (buôn bán), trái banh (thể thao)…

Ngày xưa, đối với những đứa bé khó nuôi, người Hoa vùng Châu Đốc hay mang đến các miếu để “ký bán” cho thần thánh, phổ biến hơn hết là miếu Quan Đế. Họ tin rằng, đứa trẻ khó nuôi thường dễ bị tà ma ám hại, nếu ký bán cho thần thì nó trở thành con của thần và được thần che chở. Khi ký bán, thần ban cho đứa bé một cái tên, lấy theo họ của thần. Thí dụ, đứa nào được ký bán cho Quan Đế thì lấy họ Quan, đứa nào được ký bán cho Thiên Hậu thì lấy họ Lâm… Sau nghi lễ, cha mẹ mang đứa con về nhà, tiếp tục nuôi nấng bình thường. Những cái tên do thần thánh ban cho chỉ được sử dụng ở nhà, trên giấy tờ vẫn sử dụng tên do cha mẹ đặt.

Ngoài ra, tùy theo phong tục của từng nhóm phương ngữ hoặc truyền thống của từng dòng họ, người Hoa có thể tổ chức những nghi lễ nhỏ, với những ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn, đối với một số gia đình, việc đặt tên cho đứa bé cũng được thực hiện dưới hình thức nghi lễ. Song, ngày nay các nghi lễ nhỏ ấy đã mai một dần.

2. Trưởng thành

Trong văn hóa Triều Châu, khi một người đến 15 tuổi dù trai hay gái đều phải làm lễ xuất hoa viên, mang ý nghĩa đánh dấu sự trưởng thành. Cụm từ “xuất hoa viên” nghĩa đen là ra khỏi vườn hoa. Người Hoa quan niệm rằng, trẻ em dưới 15 tuổi sống quanh quẩn trong nhà, chịu sự bảo bọc của gia đình. Đến 15 tuổi, đứa trẻ đã trưởng thành, có thể rời khỏi “vườn hoa” – nói rộng là khuôn viên nhà cửa. Ngoài ra, cụm từ nầy còn liên quan đến hai vị thần trong quan niệm dân gian là Hoa Ông – Hoa Bà (Hoa Công – Hoa Mẫu). Họ được xem là thần giường ngủ, nói rộng là thần che chở cho trẻ em trong nhà. Do đó, “xuất hoa viên” còn được hiểu là ra khỏi sự che chở của Hoa Ông – Hoa Bà.

Ngày nay, lễ xuất hoa viên có thể được tổ chức vào dịp đầu năm mới, sinh nhựt đứa trẻ, hoặc thời điểm phù hợp theo sắp xếp của cha mẹ. Song, nếu đúng theo truyền thống, nghi lễ phải được tổ chức vào mùng 7 tháng 7 âm lịch, đó là ngày vía của Hoa Ông – Hoa Bà. Vào ngày nầy, đứa trẻ mặc quần áo và mang guốc đều màu đỏ, tượng trưng cho sự may mắn. Đặc biệt, các lễ vật được đặt trên giường ngủ của đứa trẻ để làm lễ, chứ không đặt trên bàn thờ như các nghi lễ khác. Lễ vật thường là bộ tam sên, tàu hũ, trái cây, chè, bánh ngọt…

Tục lệ nổi bật trong nghi lễ nầy là cắn đầu gà, với ước mong đứa trẻ sẽ thành công như Lâm Đại Khâm – Trạng nguyên người Triều Châu thời nhà Minh. Tương truyền, khi Lâm Đại Khâm đi ngang chợ, có một ông lão đặt câu đối “Hùng kê đầu thượng kế” (Gà trống trên đầu có mào), bảo rằng ai đối được thì ông sẽ tặng con gà trống. Đại Khâm đối lại “Tẫn dương hạm hạ tu” (Dê cái dưới cằm có râu), ông lão ưng ý và tặng gà như lời hứa. Đại Khâm mang gà về cho cha nấu, được cha thưởng cho cái đầu gà. Về sau, Lâm Đại Khâm thi đậu Trạng nguyên [Trần Phong Hựu 2020: 17-18].

Lễ xuất hoa viên, về mặt thế tục là sự đánh dấu bước trưởng thành của đứa trẻ, về mặt tâm linh là sự tạ ơn thần thánh và tổ tiên đã che chở cho đứa trẻ trong suốt 15 năm qua. Đây là một thực hành văn hóa đặc thù của cộng đồng người Hoa nhóm phương ngữ Triều Châu.

3. Hôn nhân

Hôn nhân là nghi lễ quan trọng hàng đầu trong cuộc đời mỗi con người. Trong văn hóa truyền thống của người Hoa, trai gái kết hôn phải lần lượt trải qua sáu lễ: nạp thái, vấn danh, nạp kiết, nạp truân, thỉnh kỳ, thân nghinh. Ngày nay, theo sự phát triển của xã hội hiện đại, các nghi lễ được lược bớt. Tuy nhiên, người viết vẫn giới thiệu đôi nét về các nghi lễ truyền thống nầy. Xuyên suốt thời gian từ chuẩn bị đến tổ chức hôn lễ của người Hoa, người mai mối có vai trò rất quan trọng, có mặt trong hầu hết các nghi thức.

* Nạp thái: Bà mai thay mặt nhà trai đến nhà gái để ngỏ lời hỏi cưới. “Thái” là lễ vật mà nhà trai ủy thác cho bà mai đến tặng nhà gái, thường không quá cầu kỳ. Nếu nhà gái đồng ý nhận lễ vật, đồng nghĩa họ đã chấp nhận hôn sự. Bà mai về báo lại cho nhà trai chuẩn bị các bước tiếp theo.

* Vấn danh: Đích thân nhà trai (hoặc có thể tiếp tục ủy thác bà mai) mang lễ vật đến nhà gái để hỏi ngày sanh của cô dâu và cha mẹ. Mục đích của việc lấy thông tin nầy là để nhờ thầy bói xem tuổi đôi trai gái có hợp nhau không, tuổi đôi thông gia có xung khắc nhau không…

* Nạp kiết: Nếu xem tuổi có kết quả thuận lợi, nhà trai sang nhà gái làm lễ nạp kiết. Nó có ý nghĩa là mang thông tin tốt lành về hôn sự đến thông báo cho nhà gái. Đây cũng là lễ xem mặt, vì ngày xưa hôn sự đều thông qua bà mai, đến lúc nạp kiết hai bên mới chính thức gặp mặt nhau. Ngược lại, nếu xem tuổi có kết quả xung khắc, hôn sự có thể bị hủy.

* Nạp tài: Nạp tài cũng gọi là nạp tệ, nạp trưng, nạp truân, nạp chinh… Đây là nghi thức đính hôn của đôi trẻ, khẳng định hai bên chắc chắn sẽ tiến tới hôn nhân. Vào lễ nầy, nhà trai mang đến nhà gái các mâm lễ vật, đồng thời tặng riêng cô dâu một số món quà tùy theo từng gia đình. Các mâm lễ vật phải ở số chẵn để ngụ ý có cặp có đôi. Lễ đính hôn thường chỉ diễn ra trong phạm vi dòng họ.

* Thỉnh kỳ: Sau lễ đính hôn, nhà trai sang nhà gái xin ý kiến về ngày giờ tổ chức lễ cưới, đồng thời bàn bạc những vấn đề cần thiết khác cho ngày hôn lễ. Khi hai bên đạt được

sự đồng thuận, họ bắt tay vào công tác tổ chức lễ cưới.

* Thân nghinh: Đây là ngày chú rể sang nhà gái rước dâu. Khi về nhà chồng, cô dâu mang theo một ít của hồi môn do cha mẹ tặng. Về đến nhà trai, cô dâu và chú rể làm lễ bái đường, chính thức trở thành vợ chồng.

Ngoài sáu lễ kể trên, sau hôn lễ ba ngày, chú rể đưa cô dâu về lại nhà cha mẹ ruột để làm lễ phản bái, còn gọi là lễ lại mặt. Các nghi thức hôn nhân đến đây xem như hoàn mãn. Tuy nhiên, đó là lục lễ trong hôn sự ngày xưa. Ngày nay, các gia đình người Hoa khu vực Châu Đốc thường rút gọn còn từ một đến ba lễ dạm hỏi, đính hôn, thành hôn.

Đặc biệt, trong hôn sự của người Hoa, có nhiều tập tục đa dạng và ý nghĩa, được lưu truyền từ quê cũ. Chẳng hạn, nhà gái có tập tục chải đầu cho cô dâu vào đêm trước ngày về nhà chồng. Hôm đó, cô dâu tắm bằng nước được nấu từ lá bưởi. Sau khi chưng diện tươm tất, cô dâu ngồi trước bàn thờ gia tiên. Người chải đầu cho cô dâu là người phụ nữ cao niên trong dòng họ, có đức độ, gia đình thuận hòa, đông con cháu. Thông thường, người đó chải tóc cho cô dâu bốn lần, mỗi lần đọc một câu chúc: một chải răng long đầu bạc, hai chải con cháu đầy đàn, ba chải vợ chồng hạnh phúc, bốn chải phú quý vinh hoa… hoặc có thể thay đổi đôi chút.

Chặn cửa là một tập tục thú vị vào ngày rước dâu. Khi đến đón dâu, chú rể bị bạn bè của cô dâu chặn lại ngoài cửa. Để được vào trong, anh phải “đút lót” cho họ một số quà cáp. Ngày xưa, tập tục nầy phần nào thể hiện sự chùng chình của nhà gái khi phải tiễn đưa con gái mình xuất giá. Ngày nay, tục chặn cửa góp phần tạo không khí sôi động cho ngày cưới. Thay vì quà cáp, nhà gái có thể yêu cầu chú rể thực hiện một số thử thách vui nhộn.

Theo tập tục truyền thống của người Quảng Đông, trong nghi thức rước dâu, cha mẹ chú rể không sang nhà gái đón dâu, ngược lại cha mẹ cô dâu cũng không đưa dâu sang nhà trai. Bởi vì, ảnh hưởng từ quan niệm tôn ti trong Nho giáo, họ cho rằng bậc trưởng bối không đưa đón kẻ hậu sanh. Đây là một trong những điểm khác biệt so với hôn lễ của người Việt. Ngày nay, do ảnh hưởng văn hóa Việt, các gia đình người Hoa khi rước dâu đều có mặt cha mẹ hai bên.

Lễ vật mang tính bắt buộc trong hôn sự là nhẫn. Theo Thái Kỳ Thư [2011: 158], tập tục trao nhẫn trong lễ cưới được truyền bá vào Trung Hoa từ các tộc người phương Bắc. Chiếc nhẫn trong chữ Hán là “giới” có nghĩa là răn cấm. Từ đó, người Hoa cho rằng, phụ nữ đeo nhẫn biểu thị đã lập gia đình, người đàn ông khác không được đến gần. Trong khi đó ở Việt Nam, do chiếc nhẫn đồng âm với nhẫn nhịn, nên dân gian giải thích rằng chiếc nhẫn mang ý nghĩa nhắc nhở vợ chồng phải nhẫn nhịn nhau.

Hợp cẩn giao bôi là một nét đẹp trong ngày cưới của người Hoa. Ngày xưa, hợp cẩn và giao bôi là hai tiểu tiết khác nhau trong một nghi thức. Họ lấy trái hồ lô chẻ làm đôi, mỗi nửa bên gọi là cẩn. Trong lễ cưới, cô dâu và chú rể cầm hai miếng cẩn ghép lại với nhau, gọi là hợp cẩn. Đồng thời, họ dùng hai miếng cẩn làm ly uống rượu. Do chiếc ly gọi là bôi, nên hành động nầy gọi là giao bôi. Qua thời gian, miếng hồ lô được thay bằng chiếc ly thật, vì thế không còn hợp cẩn mà chỉ còn giao bôi.

Trên đây chỉ là một vài tập tục tiêu biểu trong hôn lễ của người Hoa. Ngoài ra, họ còn có rất nhiều tập tục khác rất đa dạng, tùy theo cộng đồng phương ngữ.

4. Mừng thọ

Đối với người Hoa vùng Châu Đốc, mừng thọ là nghi lễ mang tính chất nội bộ gia đình, không mời đông người. Một trong số những dịp mừng thọ phổ biến là lễ lục tuần, được tổ chức khi ông bà, cha mẹ lên 60 tuổi – cột mốc con người sống tròn một hoa giáp. Theo Nông lịch, có 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), kếp hợp tạo thành tên gọi mỗi năm. Cả chu kỳ kéo dài 60 năm mới lặp lại. Do đó, con người sống tròn một hoa giáp được xem là đã trải qua trọn vẹn một chu kỳ vận động của thiên địa.

Lễ lục tuần đánh dấu ông bà, cha mẹ bước vào hàng lão niên, điều nầy được xem là phước đức của gia đình. Bên cạnh đó, lễ còn mang ý nghĩa cầu mong cho ông bà, cha mẹ được tiếp tục sống an vui, khỏe mạnh, trường thọ bên con cháu. Sau cùng, đây là dịp con cháu trong gia đình đoàn viên và ăn bữa cơm thân mật với ông bà, cha mẹ.

Về khía cạnh tín ngưỡng, ngoài chư Phật, thần thánh, gia tiên – những đối tượng được hầu hết người Hoa sùng kính, thì người lên lục tuần còn đặc biệt tạ ơn vị thần độ mạng của mình. Bởi vì họ cho rằng, nhờ vị thần ấy bảo hộ trong suốt mấy chục năm qua, mình mới được sống bình an đến tuổi 60.

Trong lễ mừng thọ, người Hoa thường dùng bánh đào tiên hoặc bánh trường thọ, với hình dáng trái đào nhỏ xinh và có màu hồng nhạt. Trong văn hóa Trung Hoa, đào tiên được xem là biểu tượng của sự trường thọ, do đó bánh đào tiên mang ý nghĩa chúc các cụ già được trường thọ. Ngoài ra, họ còn có món chè ỉ, nấu bằng bột nếp, vo thành viên tròn, bên trong có viên đường tán bé xíu hình vuông, mang ý nghĩa âm dương giao hòa – tượng trưng cho sự viên mãn [Nguyễn Duy Bính 2017: 2].

Sau phần nghi lễ hướng đến các vị thần linh, con cháu trong gia đình lần lượt gởi những lời chúc tụng đến ông bà, cha mẹ. Ông bà, cha mẹ sẽ tặng lại những bao lì xì màu đỏ để chia sẻ phước lộc cho con cháu. Sau cùng, họ cùng nhau quây quần ăn uống bữa cơm gia đình. Hiện nay, người Hoa vùng Châu Đốc còn kết hợp một số nghi thức hiện đại có nguồn gốc từ văn hóa phương Tây vào lễ mừng thọ như thổi đèn cầy, cắt bánh kem…

Các dịp lễ mừng thọ quan trọng của người Hoa gồm 60, 70, 80, 90 tuổi đều có những danh xưng riêng. Thọ 60 tuổi được gọi là hoa giáp, với ý nghĩa như đã trình bày. Thọ 70 tuổi được gọi là cổ hy, lấy từ câu thơ “Nhân sanh thất thập cổ lai hy” (Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm) của nhà thơ Đỗ Phủ thời Đường. Thọ 80 – 90 tuổi được gọi là mạo điệt, đây là một từ ngữ phổ biến trong thư tịch Trung Hoa, dùng để chỉ những cụ già 80 – 90 tuổi. Thọ 100 tuổi được gọi là kỳ di, lấy từ một câu trong sách Lễ ký: “Bách niên viết kỳ, di.” Nguyễn Tôn Nhan [1999: 37] dịch: “Trăm năm là kỳ hạn (của đời người) phải nương cậy vào người khác gọi là di.”

5. Tang chế

Tang ma là nghi lễ cuối cùng trong vòng đời của con người. Do đó, đối với nhiều nền văn hóa trên thế giới, tang ma luôn được xem là một trong những nghi lễ quan trọng hàng đầu đối với mỗi người, người Hoa cũng không ngoại lệ. Bên cạnh đó, do quan niệm về sự kết nối giữa tổ tiên và con cháu, giữa cõi âm và cõi dương, giữa người chết và kẻ sống… nên người Hoa cho rằng việc chăm lo tang lễ người quá cố có tác động đến cuộc sống sau nầy của gia đình.

Tang chế theo truyền thống của người Hoa khá cầu kỳ. Ngày nay, người Hoa tại Nam Bộ nói chung và Châu Đốc nói riêng mặc dù vẫn giữ những nghi thức cổ truyền trong đám tang, nhưng cũng có nhiều sự giản lược. Người Hoa chủ yếu theo Phật giáo, song nghi thức tang ma nhìn chung là sự kết hợp giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Xuyên suốt lễ tang, gia đình thường mời tăng ni đến tụng kinh, đồng thời chủ trì các nghi thức.

Đầu tiên, khi trong nhà có người mất, người thân tìm thầy coi ngày giờ tốt xấu, chọn lựa những thời điểm thích hợp để cử hành các nghi thức trong lễ tang. Trước nhà thiết trí bàn thờ Phật là nơi lễ bái, tụng kinh, cầu nguyện… Trước quan tài có bàn thờ vong là nơi cúng viếng vong linh người quá cố. Trên đó có lư hương, bài vị, di ảnh, thức ăn…

Mỗi nhóm phương ngữ có những tập tục khác nhau trong tang lễ. Chẳng hạn, người Phước Kiến không che mặt người chết, người Hải Nam dùng chiếc khăn vuông màu đỏ để che mặt, người Triều Châu không dùng gối kê đầu người chết mà dùng hai thỏi giấy tiền vàng mã (một đầu vàng và một đầu bạc)… Người Hẹ thường chặt đôi chiếc đòn gánh, một đoạn dài và một đoạn ngắn, đoạn ngắn được bỏ vào quan tài lúc tẩm liệm, đoạn dài dành cho người vợ hoặc chồng còn sống và được gác bên quan tài. Hình ảnh đó tượng trưng cho đôi vợ chồng đã chia lìa [Nguyễn Duy Bính 2017: 3].

Để chuẩn bị cho nghi thức khâm liệm, gia đình lau rửa thi thể người mất, rồi mặc quần áo mới vào. Đây là trang phục được may dành riêng cho tang sự, không phải quần áo thường ngày. Ngày nay, nhằm đơn giản hóa, người ta có thể sử dụng quần áo thường ngày, nhưng lựa chọn trang phục mới, đẹp, được người mất từng ưa thích lúc sanh tiền. Sau khi khâm liệm thi thể người quá cố vào quan tài, tang gia thực hiện nghi thức thành phục, còn gọi là thọ tang, tức là các thành viên trong gia đình mặc tang phục. Trong những ngày quan tài còn quàn trong nhà, người thân cúng cơm cho người mất vào hai buổi sáng và chiều mỗi ngày, gọi là triêu tịch điện.

Trong vấn đề an táng, người Hoa thường lựa chọn hình thức địa táng, theo tập tục truyền thống. Các gia đình có thể chôn cất người chết trong nghĩa trang của bang, khu đất của dòng họ, phần đất của gia đình… Khu vực núi Sam (thành phố Châu Đốc) và vùng Thất Sơn (thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn) là những nơi được đông đảo người Hoa lựa chọn làm nơi chôn cất người thân. Ngày nay, một số gia đình hiện đại lựa chọn hỏa táng để góp phần bảo vệ môi trường.

Sau ba ngày từ ngày người thân qua đời, gia đình làm lễ khai mộ, gọi theo người Việt là mở cửa mả. Có ý kiến giải thích tập tục nầy bắt nguồn từ quan niệm về hiếu đạo của Nho giáo, theo đó sau ba ngày, con cháu phải ra mộ khóc lóc để bày tỏ lòng tiếc thương người quá cố [Nguyễn Thị Nguyệt 2016: 365]. Song, theo dân gian giải thích, trong ba ngày đầu, người chết chưa ý thức được mình đã chết. Lễ mở cửa mả vào ngày thứ ba có ý nghĩa thông báo cho vong linh biết mình đã qua đời. Xin nói thêm, đa phần các tài liệu ghi chép rằng, lễ mở cửa mả diễn ra vào ngày thứ ba tính từ ngày an táng. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế trên địa bàn Châu Đốc, đa phần người Hoa và người Việt cử hành lễ mở cửa mả vào ngày thứ ba tính từ ngày mất.

Tính từ ngày mất của người thân, cứ đúng bảy ngày, gia đình tổ chức lễ cúng một lần gọi là trai tuần (hoặc cúng tuần, làm tuần…) tổng cộng bảy lần. Ảnh hưởng từ Phật giáo, người Hoa quan niệm rằng, một người chết đi không phải là hết, mà tái sanh sang một kiếp sống mới. Theo Phật giáo Đại thừa, 49 ngày là khoảng thời gian tối đa mà vong linh có thể thọ sanh sang cảnh giới mới. Do đó, trong 49 ngày, gia đình cầu siêu cho người quá cố, đồng thời làm những việc phước thiện để hồi hướng một phần công đức cho họ. Sau 49 ngày, gia đình không tổ chức lễ cúng nữa. Đến tròn 100 ngày kể từ ngày mất, gia đình tổ chức một lễ cúng gọi là tuần bách nhựt.

Tròn một năm từ ngày người thân ra đi, gia đình tổ chức đám giỗ đầu tiên, gọi là tiểu tường (điềm lành nhỏ). Đám giỗ năm thứ hai gọi là lễ đại tường (điềm lành lớn). Sở dĩ gọi là điềm lành, vì trong thời gian đó, gia đình không xảy ra biến cố nào khác, từ đây sự may mắn thay thế cho sự xui rủi. Theo truyền thống, đại tường là dịp xả tang. Tuy nhiên trên thực tế ngày nay, con cháu có thể xả tang sớm hơn, vào dịp 49 ngày hoặc 100 ngày, tùy theo từng gia đình.

Nhìn vào nghi thức tang ma của người Hoa, có thể nhận thấy một trong những nét nổi bật là tính chất vừa đối kháng và vừa dung hòa giữa Nho giáo và Phật giáo. Trong suốt thời gian diễn ra tang sự, người Hoa có nhiều tập tục thể hiện niềm đau khổ, tiếc nuối, quyến luyến, không muốn rời xa người thân vừa qua đời. Điều đó phù hợp với quan niệm về hiếu đạo của Nho giáo. Phật giáo cũng đề cao hiếu thảo, nhưng Phật giáo cho rằng vạn vật có sanh thì có diệt – đó là quy luật tất yếu, con người không nên bám chấp vào để đau khổ. Vì thế, một bộ phận người Hoa đã mạnh dạn lược bớt khá nhiều tập tục rườm rà.

VĨNH THÔNG


Ảnh: Thành phố Châu Đốc đón Xuân | Cao Minh Dẹt

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Nguyễn Duy Bính (2017), “Những nghi lễ gia đình của người Hoa ở Nam Bộ”, Website Thư viện Trường Đại học An Giang (www.lib.agu.edu.vn), 5/4/2017.

  2. Nguyễn Thị Nguyệt (2016), Văn hóa tín ngưỡng dân gian người Hoa Đồng Nai, Nxb Mỹ Thuật.

  3. Nguyễn Tôn Nhan dịch (1999), Kinh lễ, Nxb Văn học.

  4. Thái Kỳ Thư (2011), Dân gian sinh tử toàn thư, Nxb Thời Đại.

  5. Trần Phong Hựu (2020), Xuất hoa viên – Lễ trưởng thành của người Triều Châu, Bản điện tử của tác giả.